IV.  Các khó khăn khác và sự tự trị, tự lập.
Rút tỉa kinh nghiệm ở các nước khác, Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp đã cố gây dựng Hội Thánh Việt Nam để có thể đạt đến tình trạng tự trị tự lập càng sớm càng tốt. Ða số tín đồ Việt Nam là những người bình dân, một số nhỏ là công chức. Năm 1928, chỉ có 10 trong số 80 Hội thánh tự trị tự lập, số này tăng lên gấp đôi vào năm 1930 và gấp bốn lần vào năm 1932. Vào Thế Chiến Thứ Hai, 75% hội thánh đạt đến tự trị tự lập, các mục sư của các hội thánh còn lại được tín đồ trợ cấp rất ít, phải cần sự giúp đở của Hội Truyền Giáo. Vào năm 1942 khi mật vụ của Nhật bắt giam các giáo sĩ ở Mỹ Tho, tất cả các Hội thánh đều tự túc với chương trình tương trợ giữa các hội thánh địa phương và các Ðịa hạt trong giai đoạn nầy.

Trong Ðệ Nhị Thế Chiến, tình hình tài chánh suy giảm, các viên chức Hội Truyền Giáo cho biết là Hội không có khả năng giúp đỡ các hội thánh đang thiếu hụt được, họ khuyên quý mục sư hãy nhờ cậy Chúa trong đức tin, nếu họ muốn, họ có thể đóng cửa nhà thờ và trở về nghề cũ. Tuy nhiên đại diện của Hội Truyền Giáo miền Nam tường trình rằng không một hội thánh nào phải đóng cửa vì có một ngân quỷ trong đó các hội thánh tự lập đã giúp các hội thánh khác đang gặp khó khăn.

Ở miền Bắc, vào năm 1942, có khoảng một ngàn tín đồ đã chịu phép báp-têm, 28 mục sư và truyền đạo với 27 nhà thờ và 30 chi nhánh. Trong đó chỉ có 4 nhà thờ tự lập. Giáo hội đã phải đóng cửa 11 nhà thờ và có thể phải đóng cửa trên 80 % các nơi nhóm họp vì có nhiều người tị nạn từ miền nam Trung quốc khiến ngân quỷ giáo hội bị thiếu hụt. Vào tháng hai năm 1942, Mục sư Lê Văn Thái, Chủ nhiệm Bắc hạt, được mời tham dự kỳ Hội đồng Ðịa hạt miền Nam tại Cần Thơ thay thế cho Mục sư Hội trưởng Lê Ðình Tươi bị bệnh. Ông đã từ chối lời mời vì tình trạng khẩn trương ở đây. Nhưng trong giấc chiêm bao, ông được khải thị về sự yêu thương và tương trợ của các con cái Chúa, ông liền nhận lời. Vào Nam, ông được các tín hữu, tôi tớ Chúa giúp đỡ từ chiếc áo choàng, đôi bông tai, đến đôi giày, đồng hồ, viết máy và tiền mặt… y như điều ông thấy trước trong giấc chiêm bao. Trên đường về Bắc, ông có ghé dự Hội đồng Ðịa hạt miền Trung và Trường Kinh Thánh Tourane (Ðà Nẵng). Nơi nào ông đến, ông cũng được mọi người hết lòng chia xẻ và giúp đỡ. Khi trở về Hà Nội, Mục sư Thái mang bốn va-ly chứa đầy tặng vật. Hội Thánh Hà Nội liền phát động chiến dịch mua lại các tặng vật để gởi trả cho người dâng. Việc nầy đã được tín hữu ở đây và các vùng phụ cận hưởng ứng nhiệt liệt. Các tín hữu tranh nhau mua những món đồ tầm thường với giá rất cao, mong sao hành động của mình xứng với lòng hy sinh tốt đẹp của các tín hữu miền Trung và Nam. Nhờ việc bán đấu giá lạ lùng nầy mà Bắc hạt có đủ tiền để trang trải những nhu cầu cấp bách lúc đó. Vì thế những tín đồ miền Trung và Nam đã dâng hiến đều được các kỷ vật gởi trả lại cho mình. Một Giáo sĩ đã viết lại sự tương trợ của các con cái Chúa trong thời gian này như sau:

“Dầu rằng các tín đồ rất nghèo và rất muốn lưu giữ các kỷ vật của mình, vì thế những sự dâng hiến và giúp đỡ này rất đáng phâm phục. Giống như những tín đồ ở Ma-xê-đoan, họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa… (II Cô-rinh-tô 8:3)”

Mục sư Lê Văn Thái

Mục sư Lê Văn Thái

Ở miền Trung, Hội thánh đã chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong thời kỳ chiến tranh: có một số nhà thờ phải đóng cửa và nhiều mục sư phải trở lại nghề cũ để lo sinh kế cho gia đình. Nhiều mục sư kiên trì trong chức vụ phải mắc nợ lâu dài và gia đình lâm vào cảnh đói kém.

Trong cuộc thế chiến thứ hai này, các giáo sĩ được lệnh di tản về nước hay qua Phi-luật-tân. Tuy nhiên trong số 74 vị ở vùng Ðông Nam Á, có 68 người liều mình ở lại, họ được tòa đại sứ Thụy sĩ giúp đỡ. Nhiều giáo sĩ lợi dụng thời gian bị bắt để soạn các bộ sách rất có giá trị cho chúng ta như quyển Kinh Thánh Tự Ðiển của Giáo sĩ Cadman, quyển Thần Ðạo Học và những sách khác được Giáo sĩ Olsen nhuận chánh. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bắt đầu đối xử tàn tệ với các nhà truyền giáo. Giáo sĩ Franklin Grobb là người duy nhất đã qua đời trong lúc bị giam giữ vì họ không cho phép vợ ông mang ông đến bệnh viện phía bên kia đường đối diện trại giam để trị chứng viêm ruột dư và màn bụng cấp tính. Sau khi người Nhật đầu hàng, tất cả các Giáo sĩ đều được trở về nước ngoại trừ ông bà E. F. Irwin, ông bà W. C. Cadman và ông D. I. Jeffrey. Ðến tháng 11 năm 1945, chỉ có gia đình Giáo sĩ Cadman ở lại. Sau khi bà về với Chúa vào tháng 4 năm 1946, Giáo sĩ Cadman là giáo sĩ độc nhất tại Việt Nam trong 10 tháng. Ông nói: “Các anh em trong Chúa ở đây đang gặp hiểm nguy, chúng ta không thể bỏ họ đơn cô, chúng tôi quyết định ở lại với họ”.

Trong thời gian nạn đói năm 1944-45, có gần 2 triệu đồng bào, đa số ở miền Bắc, phải chết vì không có thực phẩm. Tuy nhiên, không có một tín đồ nào bị chết đói mặc dầu họ rất nghèo và hết lòng cung ứng cho mục sư của họ. Mục sư Thái cho biết trong thời gian này sự dâng hiến (cộng chung với sự giúp đỡ của các anh em miền Trung và miền Nam) cho Ðịa hạt miền Bắc đã tăng lên gấp 4 lần.

Vì chủ trương không tham gia chính trị của Giáo Hội, nhiều tín đồ đã bị bắt bớ vì sự nghi kỵ của hai bên nhất là trong thời gian chiến tranh. Vào năm 1948, số giáo sĩ ở miền Bắc tăng lên đến 5 người, số nhà giảng, buổi thờ phượng và số người chịu phép báp-têm đều gia tăng. Các hội thánh miền Trung gần trận tuyến phải đóng cửa, mục sư và tín đồ di tản. Các hội thánh còn lại vẫn trung tín hoạt động. Số tín đồ được gia tăng như ở Ðà Nẵng, có 67 người gia nhập Hội thánh trong năm 1950. Ở trong Nam, có gần 30 nhà thờ bị đóng cửa, nhiều nơi bị san bằng hay bị chiếm đóng. Nhiều mục sư vì thế phải bị thiếu thốn, nợ nần có khi phải tìm việc khác mưu sinh.