V.  Giai đoạn phục hồi và tăng trưởng

Sau trận chiến ở Ðiện Biên Phủ và việc ký hiệp định Genève, Việt Nam bị chia ra làm hai miền. Hiến pháp năm 1960 của miền Bắc khẳng định những nhân quyền căn bản của nhân dân như trong hiến pháp năm 1946: "Nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được quyền tự do tín ngưỡng; mọi người đều có quyền theo đạo hoặc không theo đạo". Hiến pháp của miền Nam thừa nhận mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, hành đạo và theo đạo miễn là sự tự do này không đi ngược lại với luân thường đạo đức.

Giáo hội miền Bắc được đổi tên là "Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Bắc" gồm vài ngàn tín đồ với hai chục hội thánh, 13 mục sư và truyền đạo. Giáo hội miền Nam vẩn giữ danh hiệu Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vì trên 90 phần trăm tín hữu ở trong Nam. Vào năm 1962, Ðịa hạt miền Trung được chia ra làm Bắc Trung phần trụ sở ở Ðà Nẵng và Nam Trung phần trụ sở ở Nha Trang. Ðến năm 1969 Ðịa hạt miền Nam được chia ra làm Ðông Nam phần với văn phòng ở Sài Gòn và Tây Nam phần ở Vĩnh Long. Năm 1960, Ðịa hạt Thượng du được thành lập để cung ứng nhu cầu đặc biệt cho đồng bào thiểu số.

Trong kỳ Hội Ðồng Tổng Liên năm 1955, mặc dù có một nhóm người tố cáo muốn lật đổ Mục sư Hội trưởng Lê Văn Thái, Hội Ðồng cũng đã quyết định những việc quan trọng sau đây:

a) Hội Ðồng chấp thuận liên hợp với những tổ chức truyền giáo đồng chung niềm tin để đẩy mạnh việc truyền giảng trong nước. Cơ quan đầu tiên được tiếp xúc là Hội Cứu Thế Quân (the Salvation Army), sau đó là những cơ quan truyền giáo như: The Navigator (1955), The Overseas Crusades (1956), Hội dịch Kinh Thánh Wycliffe (1957), Cơ Ðốc Truyền Giáo Hội hay The Worldwide Evangelization Crusade (1957), Hội Truyền Giáo Mennonite (1957), Giáo Hội Báp-Tít Nam Phương (1959), Hội Ái Hữu Sinh Viên Cơ Ðốc (1959), Giáo Hội Ðấng Christ (1960), The Scripture Union (1962) và các cơ quan nhỏ khác.

b) Lần đầu tiên Hội Ðồng cứu xét việc bổ nhậm phụ nữ để giảngdạy

c) Gởi sinh viên ra hải ngoại để được huấn luyện về thần học hay các ngành chuyên môn khác.

d) Hội Ðồng cũng quyết định đẩy mạnh công tác xã hội đã được đề ra từ năm 1932. Với sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, Giáo Hội cũng đã trợ cấp cho nhiều hội thánh xây cất lại. Theo thống kê năm 1971, tổng cộng Giáo Hội có 6 cô nhi viện và một nhà dành cho quả phụ.

e) Thành lập Ðoàn Tuyên úy với Mục sư Tuyên úy Ðoàn Mười là vị sĩ quan đầu tiên.

f) Thành lập trường học cho đồng bào thiểu số và sau này các Hội thánh lớn như Khánh hội, Sài gòn cùng mở các trường trung học, trường Ánh Sáng là trường thành công nhất ở Ðà Nẵng dùng cơ sở củ của Trường Kinh Thánh. Sau đó có trường dạy nghề Tuyên Ðức. Vào năm 1957, Hội Ðồng cũng quyết định mở một bệnh viện Tin Lành ở Sàigòn. Dự án này không thực hiện được. Tuy vậy Mục sư Phạm Xuân Tín với sự giúp đỡ của Hội Mennonite, đã mở một Chẩn Y Viện Tin Lành ở Nha Trang vào ngày 9 tháng 7 năm 1961. Sau đó một Trại dưỡng bệnh và một Trường đào tạo y tá được thêm vào. Vào năm 1965, Bệnh viện Tin Lành Pleiku được mở ra với sự tài trợ của Hội Mennonite. Cũng nên biết rằng Trại cùi Tin Lành Ban-mê-thuột đã được thiết lập vào năm 1951, Chẩn Y Viện Ðà Lạt đã hoạt động trước đó cũng được bành trướng vào năm 1954. Khi Giáo sĩ Cadman về với Chúa vào ngày 7 tháng 12 năm 1948, ông dâng tất cả di sản của ông cho Hội thánh Tin Lành Việt Nam. Mục sư Lê Văn Thái phải vận động chính phủ giảm miễn thuế trên món tiền này để xây cất Cô nhi viện Hòn Chồng, trên mảnh đất 18 mẫu với sự trợ giúp của Hội Bảo Trợ Nhi Ðồng Quốc Tế. Cơ sở này được khánh thành vào ngày 4 tháng 9 năm 1953 với các cô nhi con mục sư, truyền đạo (27 em) và con tín hữu (11 em). Sau đó ông bắt đầu mỡ trường trung tiểu học Bết-lê-hem và trường dạy nghề cũng trong khuôn viên của Cô nhi viện. Cũng nên biết là Giáo sĩ Cadman là một trong những nhà truyền giáo tiên phong ở Việt Nam, ông bà có một người con gái độc nhất qua đời lúc 6 tuổi được an táng ở nghĩa trang thành phố Hà Nội vào năm 1922, bà về với Chúa và được an táng ở nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi Saigòn (1946), còn ông thì được Tổng Liên Hội an táng ở nghĩa trang thành phố Ðà Lạt (1948), phía dưới mộ bia của ông có đề "NGƯờI TRUNG TÍN CHO ÐẾN CHẾT"

Sau 19 năm phục vụ Giáo hội dưới chức vụ Hội trưởng, qua thời Nhật chiếm đóng, Giáo sĩ bị giam cầm và sự tranh đấu dành độc lập tôn giáo đối với chính quyền miền Bắc và miền Nam nhất là những năm đầu của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Mục sư Lê Văn Thái từ nhiệm vào năm 1960, mặc dù có nhiều đại biểu yêu cầu ông ở lại. Mục sư Ông Văn Huyên cũng xin từ chức sau 30 năm làm Thư ký Giáo hội. Hội Ðồng bầu Mục sư Ðoàn Văn Miêng vào chức vụ

Hội trưởng với sự phụ tá của Mục sư Phạm Xuân Tín.

Ðể thích ứng cho thời bình với khải thị bành trướng tầm hoạt động, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam gia tăng các chương trình huấn luyện để đào tạo mục sư cũng như các người hầu việc khác:

1. Trường Kinh Thánh Ðà Nẵng:  Hội thánh Ðà Nẵng mở lớp học Kinh Thánh tại tư thất các giáo sĩ mỗi ngày vào giờ nghỉ trưa bắt đầu từ năm 1919. Vào năm 1921, Trường Kinh Thánh Ðà Nẵng được thành lập và nơi nầy đã trở thành trung tâm đẩy mạnh việc truyền giáo đến mọi nẻo đường trong xứ cũng như một phần lảnh thổ Cam-bô-chia và Lào. Số sinh viên bị giảm

xuống thấp nhất vào niên khóa 1953-1954 với 18 người vì có lệnh động viên. Sau đó nhiều năm, số sinh viên dần dần gia tăng trở lại.

2. Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang:  Ðược khánh thành vào tháng 9 năm 1960, trong năm đầu tiên có 85 sinh viên nội trú với 55 truyền đạo. Năm 1961-1962, có đến 110 sinh viên và 55 truyền đạo.

3. Trường Kinh Thánh Ðà-lạt và Ban-mê-thuột:  Ðược thành lập để lo cho việc truyền giáo cho đồng bào thiểu số. Vào giữa thập niên 1950, trường Kinh Thánh Pleiku được mở cho người Jarai, nhưng vì ít người tham dự cho nên các sinh viên được chuyển xuống Ban-mê-thuột để học và nơi này được dùng để huấn luyện cho các Chấp sự Hội thánh.

4. Thánh Kinh Tiểu Học Ðường: Thánh Kinh Tiểu Học Ðường (short term bible schools) đã có từ trước nhưng mãi đến năm 1958 mới được thông dụng và tổ chức đều đặn.

Vào năm 1955, Việt Nam có 3 trường Kinh Thánh, con số này tăng lên 6 trường vào năm 1958 , đến năm 1964, có tất cả 9 trường với tổng số sinh viên cao nhất là 214 vào năm 1962.

Năm 1951, Ðài Viễn Ðông tại Ma-ni-la bắt đầu chương trình phát thanh Tin Lành bằng Việt ngữ, sau đó chính phủ Việt Nam cũng cho phép phát thanh Tin Lành trên các đài địa phương.

Chương trình chứng đạo cá nhân cũng được đẩy mạnh, năm 1955, các chứng đạo viên đã tiếp xúc được trên 93.000 người, có gần 5.000 người cầu nguyện tin Chúa trên toàn quốc. Việc chứng đạo trong các trung tâm cải huấn Phan Rang, Phan Thiết, Chí Hòa, các tỉnh miền Nam và đảo Côn Sơn cũng đã mang nhiều tội nhân trở lại cùng Chúa.

Năm 1959, Giáo sĩ Sutherland thành lập Trung Tâm Thanh Niên Cơ Ðốc tại Sài-gòn, sau đó các trung tâm ở Huế, Ðà Nẵng, Tuy Hòa, Nha Trang, Biên Hòa, Cần Thơ cũng được mở ra. Thanh niên làm việc chung với các giáo sĩ, mục sư, rao giảng Tin Lành qua việc dạy Anh ngữ, chiếu phim tôn giáo, hội họp, làm chứng... Nhiều mục sư đã dùng thuyền để rao giảng dọc theo sông Cửu Long và các hệ thống sông ngòi miền Nam.

Khi chính phủ khởi xướng các Chương Trình Dinh Ðiền, nhiều gia đình tín đồ bị định cư cũng lợi dụng cơ hội nầy để làm chứng đạo cho các người định cư khác. Hội thánh cũng tổ chức các buổi truyền giảng tại các trung tâm tị nạn. Nhà in Tin Lành trong lúc nầy cũng nổ lực in các văn phẩm Cơ đốc, truyền đạo đơn, các báo định kỳ như Thánh Kinh Báo (Thánh Kinh Nguyệt San), Ðuốc Thiêng và Hừng Ðông (Rạng Ðông) đã mang đến cho tín đồ mọi nơi thức ăn tinh thần nuôi dưởng đời sống thuộc linh.

Số người cầu nguyện tin Chúa từ năm 1911 đến 1927 là 11.699 người, từ năm 1928 đến năm 1941 có 41.402 người, từ năm 1942 đến năm 1953 có 49.753 người, từ năm 1954 đến năm 1965 có 117.349 người, và từ năm 1966 đến năm 1970 có 69.385 người.

So với các quốc gia khác ở vùng Ðông Nam Á, việc truyền giáo được bắt đầu vào năm 1813 ở Miến Ðiện, năm 1898 tại Phi Luật Tân, năm 1828 tại Thái Lan. Nam Dương và Mã Lai là hai quốc gia được biết đến Tin Lành từ thế kỷ thứ 17: Vào năm 1965, Việt Nam có 1.000.000 tín đồ Công giáo, 120.000 tín đồ Tin Lành (gồm tất cả các hệ phái), trong khi đó ở Cam-bô-chia  có 734 tín đồ, Lào có 5.000 người, Thái Lan có 44.000 người, Mã Lai có 104.000 người, Nam Dương có 6.800.000 người, Phi Luật Tân có 1.243.000 người, và Miến Ðiện có 600.000 người.