Nếp sống cộng đồng


Ca bài ca mới
            Bên cạnh lời cầu nguyện bằng Thi thiên và Lời Kinh Thánh là Bài ca cộng đồng, tức là lời tôn vinh, cảm tạ, cầu xin của Hội Thánh.
            Thi thiên kêu gọi chúng ta “hãy hát cho Đức Gia-vê một Bài ca mới” (
Thi.98:1). Mỗi buổi sáng sớm, gia đình tín hữu ca Bài ca mới ca tụng Chúa Cứu Thế. Đó là Bài ca mới mà toàn thể Hội Thánh của Chúa ở trên trời dưới đất hoà ca tôn vinh Chúa, và chúng ta được mời gọi đồng ca Bài ca đó. Đó là Bài ca tôn vinh vĩ đại duy nhất mà Đức Chúa Trời đã sáng tác trong cõi vĩnh hằng. Ai bước vào Hội Thánh của Chúa, người đó sẽ đồng ca Bài ca này. Đó là Bài ca tôn vinh mà “các sao mai đồng hát hoà nhau, và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng” (Gióp 38:7) trước khi sáng thế. Đó là Bài ca chiến thắng của dân Do Thái sau khi vượt Biển Đỏ, là Bài ca của Ma-ri sau khi nhận được tin mừng, là Bài ca của Phao-lô và Si-la ca giữa đêm khuya trong ngục tù. Đó là “Bài ca Môi se” của một ca đoàn đồng ca bên biển pha ly sau khi được giải cứu (Khải huyền 15:3). Đó là Bài ca của Hội Thánh trên trời. Mỗi sáng và mỗi tối Hội Thánh dưới đất đồng ca Bài ca này để ca tụng Đức Chúa Trời Ba Ngôi và công việc của Ngài. Ở dưới đất Bài ca này nghe khác, ở trên trời Bài ca này nghe khác. Ở dưới đất Bài ca này là Bài ca của những người tin, ở trên trời Bài ca này là Bài ca của những người thấy; ở dưới đất Bài ca này là Bài ca trong ngôn ngữ nghèo nàn của con người, ở trên trời Bài ca này là Bài ca trong ngôn ngữ “không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra” (II Cô-rinh-tô12:4). Đó là “Bài ca mới”, “không ai học được Bài ca đó, hoạ chăng chỉ có mười bốn ngàn người” (Khải Huyền 14:3) hoà ca, có “đờn cầm của Đức Chúa Trời” đệm theo (Khải Huyền 15:2). Chúng ta biết gì về Bài ca mới và đờn cầm của Chúa? Bài ca mới của chúng ta là Bài ca của con người, của những khách hành hương có Lời Chúa bừng sáng lên soi sáng con đường mình đang đi. Đó là Bài ca giản dị của những người con của trần thế, đã được kêu gọi làm những người con của Chúa, hoà ca, không phải trong hôn mê, không như mất thần, nhưng tỉnh táo, cảm tạ, suy niệm Lời Chúa mạc khải..
            “Hãy thành tâm hát mừng tôn vinh Chúa” (
Ê-phê-sô 5:19). Trước hết chúng ta phải ca Bài ca mới từ trong lòng, nếu không chúng ta sẽ không thể nào ca Bài ca này được. Tấm lòng ca, vì tràn đầy Chúa Cứu Thế. Vì thế ca hát trong Hội Thánh là một sinh hoạt thiêng liêng. Dấn thân vào Lời Chúa, ghép mình vào cộng đồng, khiêm cung và tự chế, đó là những điều kiện tiên quyết để hoà ca ca tụng Chúa. Nếu tấm lòng không ca, sẽ chỉ có tiếng hỗn độn tự ca tụng bản thân con người. Nếu không ca tụng Chúa, chúng ta chỉ ca tụng bản thân hoặc ca tụng âm nhạc, và rồi Bài ca mới sẽ trở thành bài ca tà thần.
            “Hãy dùng ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau” (
Ê-phê-sô 5:19). Bài ca của chúng ta trên trần thế là lời nói. Bài ca là Lời được ca. Tại sao những người tin Chúa ca hát mỗi khi hội họp lại với nhau? Trước hết, lý do rất giản dị là nhờ ca chung chúng ta có thể nói, có thể cầu xin cùng một lời cùng một lượt, nghĩa là ca vì muốn nối kết lời. Tất cả những lời chia sẻ, những lời cầu nguyện đều hội lại trong lời ca. Sự kiện chúng ta không thể nói chung mà chỉ có thể ca chung giúp ta nhận thức rằng lời nói không đủ để diễn tả những điều chúng ta muốn trình bày, rằng đối tượng chúng ta ca tụng vượt lên trên tất cả lời nói của con người. Tuy nhiên chúng ta không nói bập bẹ, nhưng ca hát tôn vinh Chúa, để cảm tạ, để xưng nhận, để cầu nguyện. Như vậy nhạc phải tuyệt đối phục vụ lời, phải diễn tả lời ca mà chính nhạc cũng không thấu triệt được.
            Vì lời ca quan trọng, nên bài ca của Hội Thánh, nhất là bài ca của gia đình tín hữu, nhất thiết là bài đồng ca. Ở đây lời và nhạc đặc biệt nối kết chặc chẽ với nhau. Khi đồng ca với nhau, chúng ta có thể diễn tả nghiêm túc nội dung của lời ca mà không cần một giọng ca nào khác đệm theo. Các anh chị em vùng Boehmen ca rằng: “Hôm nay chúng ta đồng ca, bằng một lưỡi, trong thuận hoà, tự đáy tim.” “Anh em lấy một lòng một miệng mà ca ngợi Đức Chúa Trời, là Cha của Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta” (
Rô-ma 15:6). Bản chất của những bài đồng ca của Hội Thánh dưới trần thế là sự tinh ròng của giọng ca, không bị đối tượng của âm nhạc làm vẩn đục, trong sạch, không để những đòi hỏi đen tối làm dơ bẩn, nhưng giản dị, bình thản và ấm cúng. Tuy nhiên điều này đòi hỏi tai của chúng ta phải kiên nhẫn học tập nghe. Vấn đề thuộc linh ở đây là Hội Thánh có thể nghiêm túc đồng ca không, nghĩa là ca bằng lòng, ca tụng Chúa, ca lời ca, hoà thuận ca.
            Sự đồng ca thường gặp khó khăn vì một vài tệ nạn trong Hội Thánh mà chúng ta nên tránh. Trong Lễ Thờ Phượng phần ca hát là phần dễ bị tính khoe khoang và cách thưởng thức nghệ thuật của cá nhân thâm nhập vào nhất. Trước hết, trong khi toàn thể Hội Thánh đang đồng ca bỗng có một giọng nhì trổi lên. Giọng nhì này muốn đệm cho tiếng ca của Hội Thánh, nhưng cũng giết chết cả lời lẫn nhạc. Rồi có giọng ba xuất hiện ở đằng trước hoặc giọng tư ở đằng sau. Rồi để tất cả mọi người đều phải chú ý đến khả năng ca từ cao xuống thấp của mình, có người luôn luôn ca một âm giai thấp hơn. Rồi có thêm giọng đơn ca thét ra từ một lồng ngực tràn đầy sinh lực, lấn át giọng ca của tất cả mọi người để mọi người có thể trầm trồ khen tặng.
            Ngoài ra còn một tệ nạn có phần kém nguy hiểm hơn, đó là những người tự cho mình “không có khả năng âm nhạc” nên không ca hát được. Và cuối cùng là những người vì cớ một lý do nào đó hoàn toàn không muốn ca hát chung với Hội Thánh, và như vậy mối tương giao trong Hội Thánh không được trọn vẹn.
            Cái khó của sự đồng ca không phải là cái khó âm nhạc, mà là cái khó thuộc linh. Dù không có nhiều khả năng về âm nhạc, nhưng nếu chúng ta có tấm lòng sẵn sàng tĩnh nguyện chung với Hội Thánh và biết tự chế trong sinh hoạt với cộng đồng, chúng ta sẽ sung sướng đồng ca với toàn thể Hội Thánh.
            Cộng đồng gia đình nên chọn và cố gắng học thuộc lòng một số bài ca, tạm gọi là những “bài ruột”. Trong giờ tĩnh nguyện, ngoài những bài ca trong chương trình chúng ta có thể thêm vào những “bài ruột” đó.
            Nhưng chúng ta không chỉ ca hát trong giờ tĩnh nguyện mà còn thường xuyên ca hát, ca suốt ngày, suốt tuần. Càng ca nhiều chừng nào, chúng ta sẽ càng vui thích chừng nấy. Và càng vui thích đồng ca chừng nào, ân phước trong nếp sống cộng đồng sẽ càng dồi dào, càng phong phú chừng nấy.
            Khi chúng ta đồng ca, đó là lúc Hội Thánh ca giọng ca của Hội Thánh. Không phải tôi ca, nhưng Hội Thánh ca, còn tôi với tư cách là một phần tử của Hội Thánh dự phần vào Bài ca của Hội Thánh. Vì thế chúng ta phải nghiêm túc đồng ca để cái nhìn thuộc linh của chúng ta nới rộng ra, để chúng ta nhận thấy cộng đồng nhỏ bé của chúng ta là một phần trong đại cộng đồng tín hữu của Chúa trên trần thế, để chúng ta vui lòng và sung sướng hoà giọng ca của mình vào Bài ca của toàn thể Hội Thánh.

Đọc Kinh Thánh
            Sau phần cầu nguyện bằng Thi thiên - có một bài ca xen kẽ - là phần đọc Kinh Thánh . “Hãy chăm chỉ đọc sách” (
I Ti 4:13).
            Chúng ta phải vượt qua một vài thành kiến mới có thể cùng nhau nghiêm túc đọc Kinh Thánh được. Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng, đọc Kinh Thánh là đọc Lời Chúa dành cho ngày hôm đó. Vì thế nhiều người chỉ đọc một vài câu Kinh Thánh chọn lọc ngắn ngủi làm câu gốc của ngày hôm đó. Chúa gia ân ban cho chúng ta các sách chú giải Kinh Thánh. Đặc biệt là trong những giai đoạn Hội Thánh phải chiến đấu chống lại những khó khăn, các sách chú giải đã từng giúp đỡ cho nhiều người. Nhưng những câu gốc và những lời chú giải không thể thay thế cho Kinh Thánh được. Lời chú giải trong ngày không phải là Lời Kinh Thánh còn lại mãi mãi cho đến ngày Chúa đến. Kinh Thánh trọng hơn chú giải. Kinh Thánh cũng trọng hơn “cơm canh hằng ngày”. Kinh Thánh là Lời Mạc khải của Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người trong tất cả mọi thời đại. Kinh Thánh không gồm từng câu gốc một, nhưng là một toàn bộ có giá trị toàn bộ. Toàn bộ Kinh Thánh là Lời Mạc khải của Đức Chúa Trời. Chỉ trong mối tương quan mật thiết của Cựu ước và Tân ước, của Lời Hứa và sự ứng nghiệm, của của lễ và luật pháp, của luật pháp và Phúc Âm, của cây thập tự và sự phục sinh, của đức tin và vâng lời ta mới có thể cảm nhận được toàn bộ Lời Chứng về Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Vì thế trong giờ tĩnh nguyện, ngoài phần cầu nguyện bằng Thi thiên phải có phần đọc Kinh Thánh Cựu và Tân ước.
            Mỗi sáng và mỗi tối mỗi gia đình cần phải nghe và đọc một chương Kinh Thánh Cựu ước và ít nhất nửa chương Tân ước. Dĩ nhiên lúc đầu sẽ có những ý kiến phản đối. Có người sẽ cho rằng, không ai có thể tiếp thu và ghi nhớ nhiều ý tưởng và những mối tương quan trong một chương Kinh Thánh dài được; hoặc, đọc nhiều mà không thể thực sự hấp thụ là khinh thường Lời Chúa. Từ ý kiến chống đối này ta sẽ dễ trở về và thoả lòng với những câu gốc trong các sách chú giải hằng ngày. Nhưng thực ra chủ trương này phạm một lỗi rất lớn. Phải chăng chúng ta là những tín hữu trưởng thành mà thực sự không thể hiểu được mối liên hệ thượng hạ văn của một chương Kinh Thánh Cựu ước? Nếu thực sự như vậy thì điều này nói lên kiến thức Kinh Thánh quá hạn hẹp và mức độ đọc Kinh Thánh hằng ngày quá ít ỏi của chúng ta. Nếu chúng ta đã quen biết Kinh Thánh thì cùng nhau đọc một chương không phải là điều khó thực hiện, nhất là khi mỗi người đều có Kinh Thánh trên tay để dò theo. Nhưng nếu phải thú nhận rằng Kinh Thánh đối với mình còn rất xa lạ, chúng ta có quyền để lỗi lầm thiếu kiến thức Kinh Thánh này sinh ra thêm một hậu quả khác nữa không? Hoặc tốt hơn, chúng ta phải cần cù và kiên nhẫn bù đắp lại thiếu sót của mình? Ở điểm này các nhà thần học cần phải thực hành trước nhất. Chúng ta đừng nghĩ rằng, mục tiêu của giờ tĩnh nguyện chung không phải là làm quen với Kinh Thánh; đừng cho rằng, chúng ta chỉ nên nghĩ đến mục tiêu này khi đọc Kinh Thánh vào những lúc khác ngoài giờ tĩnh nguyện. Người nào nghĩ như vậy là hiểu lầm giờ tĩnh nguyện chung. Mọi người đều cần tiếp thu Lời Chúa theo phương cách và kiến thức của mình. Trong giờ tĩnh nguyện các em thiếu nhi có thể nghe và học lần đầu tiên các câu chuyện trong Kinh Thánh, người trưởng thành học những câu chuyện này lại và kỹ hơn, và không ai có thể học xong Kinh Thánh được.
            Chẳng những tín hữu chưa trưởng thành nhưng nhiều tín hữu đã trưởng thành cũng thường than phiền rằng phần đọc Kinh Thánh quá dài, không thể nào tiếp thu nổi. Thật ra, đối với tín hữu trưởng thành phần đọc Kinh Thánh nào cũng “quá dài” hết, kể cả khi đọc khúc Kinh Thánh ngắn nhất. Tại sao? Kinh Thánh là một toàn bộ, và mỗi chữ, mỗi câu đều liên hệ chặt chẽ với nội dung của toàn bộ Kinh Thánh đến nỗi chúng ta không thể tách rời một chữ, một câu ra khỏi toàn bộ Kinh Thánh để suy niệm được. Mỗi chữ trong Kinh Thánh đều bao la rộng rãi hơn kiến thức của chúng ta. Mỗi ngày, khi đối diện với thực tế này, chúng ta nên hướng về Chúa Giê-xu Cứu Thế, là Đấng “mà trong Ngài đã giấu kín mọi điều quí báu về sự khôn ngoan thông sáng” (
Cô-lô-se 2:3). Như vậy mỗi phần đọc Kinh Thánh đều phải luôn luôn “quá dài” để không trở thành những câu châm ngôn, nhưng là Lời Mạc khải của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế.
            Vì Kinh Thánh là một Corpus, một toàn bộ sống động, nên phần đọc Kinh Thánh trong gia đình phải là lectio continua, nghĩa là phải theo thứ tự từ đầu đến cuối. Chúng ta phải đọc và nghe theo thứ tự các sách Lịch sử, các sách Tiên tri, các Phúc Âm, các Thư tín và sách Khải thị. Nhờ đó Hội Thánh được đưa dẫn vào thế giới Mạc khải của dân tộc Do thái với các Tiên tri, các Quan xét, các Vua và các thầy Tế lễ, các cuộc chiến, các lễ, các của lễ và các sự khổ nạn. Hội Thánh được hướng dẫn vào các câu chuyện Giáng sinh, vào Lễ Báp tem, vào các phép lạ và bài giảng luận, vào sự thương khó, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nhờ đó Hội Thánh thấu đáo được sự cứu rỗi của Chúa dành cho nhân loại trên trần thế này và tiếp nhận sự cứu rỗi đó cho chính mình. Cách đọc Kinh Thánh theo thứ tự từ đầu đến cuối đòi hỏi người nghe phải dấn thân đến chỗ mà Chúa đã một lần dấn thân để cứu rỗi con người.
            Chính nhờ phần đọc Kinh Thánh này mà những sách Lịch sử đối với chúng ta sẽ trở thành mới mẻ. Chúng ta được tham dự vào những sự cố đã một lần xảy ra cho mình. Chúng ta sẽ quên mình và đánh mất bản thân để dấn thân ra đi, xuyên qua Biển Đỏ, lưu lạc trong sa mạc, rồi vượt sông Giô-đanh tiến vào Đất Hứa. Chúng ta sẽ cùng với dân Do Thái nghi ngờ và vô tín, rồi sau khi bị sửa phạt chúng ta sẽ ăn năn, sẽ kinh nghiệm một lần nữa sự giúp đỡ và đức thành tín của Chúa. Tất cả những sự kiện này không phải là giấc mơ, nhưng là những sự cố thiêng liêng. Chúng ta sẽ được đem ra khỏi hoàn cảnh sống của mình và được đặt vào Lịch sử thánh của Chúa trên trần thế. Trong Lịch sử này, Chúa đã và hôm nay vẫn còn đang tác động qua chúng ta, qua những nan đề và tội lỗi của chúng ta, vì cớ sự công chính và ân sủng của Ngài. Quan trọng không phải Chúa là khán giả, là người tham dự vào cuộc sống của chúng ta, nhưng quan trọng là chúng ta là thính giả, là người tham dự vào công trình của Chúa trong lịch sử cứu rỗi. Đó là lịch sử của Chúa Cứu Thế trên trần thế. Và chỉ khi nào lúc đó chúng ta ở trong lịch sử đó, hiện nay Chúa mới ở với chúng ta.
            Ở đây có một quá trình hoàn toàn nghịch đảo. Quan trọng không phải sự giúp đỡ và sự hiện diện của Chúa còn phải được thể hiện trong cuộc đời của chúng ta trước đã, nhưng sự hiện diện và sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta đã được thể hiện trong cuộc đời của Chúa Giê-xu Cứu Thế rồi. Thực vậy, đối với chúng ta, thấu đáo những việc Đức Chúa Trời đã thực hiện qua dân Do Thái, thấu đáo những việc Đức Chúa Trời đã làm qua Con của Ngài quan trọng hơn là tìm hiểu những điều Đức Chúa Trời đang sắm sẵn cho mình trong ngày hôm nay. Chúa Giê-xu đã chết quan trọng hơn là tôi sẽ chết. Và Chúa đã phục sinh là lý do duy nhất khiến tôi tin chắc rằng tôi được sống lại trong ngày tận thế. Sự cứu rỗi của chúng ta đến từ “ngoài chúng ta” (extra nos). Sự cứu rỗi không ở trong lịch sử của đời tôi nhưng ở trong lịch sử của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nếu đặt mình vào Chúa, vào sự nhập thể làm người của Chúa, vào cây thập tự và vào sự phục sinh của Ngài, tôi sẽ ở với Chúa và Chúa với tôi.
            Khi thấu đáo như vậy, phần đọc Kinh Thánh hằng ngày sẽ trở thành có ý nghĩa và ích lợi hơn. Những điều chúng ta gọi là cuộc đời, nan đề, tội lỗi của chúng ta chưa đích thực là cuộc đời, nan đề, tội lỗi của chúng ta đâu. Chỉ trong Kinh Thánh mới có cuộc đời, nan đề, tội lỗi và sự cứu rỗi đích thực của chúng ta. Chúa đã vui lòng hành động cho chúng ta ở chỗ nào, chỉ ở chỗ đó Chúa mới giúp đỡ chúng ta. Chỉ nhờ Kinh Thánh chúng ta mới biết được cuộc đời của chúng ta. Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác và Gia-cốp là Đức Chúa Trời và Cha của Chúa Giê-xu Cứu Thế, và là Đức Chúa Trời của chúng ta.
            Chúng ta cần phải gần gũi Kinh Thánh, noi gương các Nhà Cải Chánh và các bậc cha ông của mình. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta không có phép sợ mất thời gian hoặc lo tốn công. Sở dĩ chúng ta cần đọc Kinh Thánh trước hết vì cớ sự cứu rỗi của chúng ta. Nhưng ngoài ra còn có nhiều lý do quan trọng khác nữa. Thí dụ như: Nếu không thấu đáo căn bản của Kinh Thánh, làm sao chúng ta có thể vững tin trong những hoạt động cho Hội Thánh hoặc cho cá nhân mình? Không phải tâm hồn của chúng ta, nhưng Lời Chúa quyết định con đường chúng ta đi. Ngày nay có bao nhiêu người còn nhận thức được rõ ràng vai trò quan trọng của Kinh Thánh? Để đi đến những quyết định quan trọng chúng ta thường dựa vào vô số những yếu tố “từ cuộc đời”, từ “kinh nghiệm”, nhưng không hề dựa vào Kinh Thánh, nhất là trong những trường hợp nếu lấy Kinh Thánh làm chuẩn thì chắc chắn chúng ta đã có quyết định ngược lại! Những người khinh thường Kinh Thánh thường là những người không đọc, không biết, không thành tâm nghiên cứu Kinh Thánh. Và ai không học tập tự sử dụng Kinh Thánh, người đó không phải là một tín hữu Tin Lành.
            Ngoài ra chúng ta cũng cần tự hỏi: Nếu không nhờ Lời Chúa làm sao chúng ta có thể giúp đỡ các anh chị em của mình đang gặp khó khăn hoặc đang bị cám dỗ? Tất cả những lời nói của chúng ta đều sẽ vô ích. Nhưng nếu ai giống như “một chủ nhà kia, đem những vật mới và cũ ở trong kho mình ra” (
Mat 13:52), nếu ai có thể dùng Lời Chúa, nói ra vô số những mạng lịnh, những lời cáo trách, an ủi của Kinh Thánh, người đó sẽ nhờ Lời Chúa đánh đuổi ma quỉ và giúp đỡ anh chị em của mình. “Vì từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan” (IITi. 3:15).
            Chúng ta nên đọc Kinh Thánh như thế nào? Trong các gia đình tín hữu, tốt nhất mọi người nên thay phiên nhau đọc Kinh Thánh từ đầu đến cuối. Chúng ta sẽ nhận thấy đọc Kinh Thánh không phải dễ. Nếu tâm hồn chúng ta càng giản dị, càng khiêm cung trước Lời Chúa chừng nào, cách đọc của chúng ta sẽ càng tương xứng với Lời đọc chừng nấy. Sự khác biệt giữa một tín hữu trưởng thành và một tín hữu chưa trưởng thành biểu lộ trong khi đọc Kinh Thánh. Một nguyên tắc căn bản là người đọc không bao giờ được đồng hoá mình với từ “Ta” của Chúa. Không phải tôi quở trách nhưng Chúa quở trách. Không phải tôi an ủi nhưng Chúa an ủi. Không phải tôi khuyên bảo nhưng Chúa khuyên bảo. Tuy nhiên, khi đọc Chúa quở trách, an ủi, khuyên bảo, tôi không đọc một cách bàng quan, nhưng đọc với tất cả tâm hồn. Như thế, tôi sẽ không lầm lẫn tôi với Chúa nhưng sẽ thành tâm phục vụ Ngài. Nếu không tôi sẽ đọc một cách hùng biện, văn hoa, ướt át hoặc truyền cảm, nghĩa là tôi hướng sự chú ý của người nghe về tôi thay vì về Lời Chúa; đó là tội trong cách đọc Kinh Thánh. Đọc Kinh Thánh cũng tượng tự như khi đọc thư của một người bạn cho người khác nghe. Chúng ta không thể đọc bức thư của bạn như thể chính mình là người viết bức thư đó, nhưng chúng ta cũng không thể đọc như thể bức thư đó không liên hệ gì đến mình; chúng ta phải chú tâm đọc bức thư và đọc với tình cảm của mình dành cho người bạn. Cách đọc Kinh Thánh nghiêm túc không tuỳ vào sự luyện tập về phần kỹ thuật nhưng tuỳ vào trình độ thuộc linh mỗi người. Nhiều tín hữu già dặn tuy đọc Kinh Thánh khó khăn, vụng về nhưng thường vượt xa hơn cả cách đọc Kinh Thánh lưu loát nhất của một Mục sư. Trong một gia đình tín hữu chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau về phương diện này.
            Ngoài phần đọc Kinh Thánh theo thứ tự từ đầu đến cuối chúng ta cũng không nên quên vai trò của các sách chú giải Kinh Thánh. Trong chương trình của giờ tĩnh nguyện, chúng ta có thể đọc sách chú giải ở phần đầu hoặc ở một phần thích hợp nào đó để có một câu gốc cho cả tuần hoặc ngày hôm đó.

Sự mầu nhiệm của Thi thiên
            Kinh Thánh Tân ước dạy chúng ta “Hãy dùng ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau” (
Eph 5:19) và “dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng, mà dạy và khuyên nhau” (Cô-lô-se 3:16).
            Từ xưa, phần cầu nguyện bằng Thi thiên đóng một vai trò rất quan trọng trong Hội Thánh. Nhiều Hội Thánh bắt đầu Lễ Thờ Phượng bằng Thi thiên. Nhưng rất tiếc ngày nay chúng ta đã đánh mất vai trò quan trọng của Thi thiên. Thi thiên giữ một vai trò đặc biệt trong toàn bộ Kinh Thánh. Thi thiên là Lời của Đức Chúa Trời, và đồng thời, ngoại trừ một vài ngoại lệ, cũng là lời cầu nguyện của con người. Tại sao Lời Đức Chúa Trời cũng là lời của con người?
            Ngoài câu hỏi này ta còn có thêm một nhận xét: Nếu cầu nguyện bằng Thi thiên, lúc đầu ta có thể dùng Thi thiên làm lời cầu nguyện của riêng mình, nhưng đến một Thi thiên nào đó, ta tự cảm thấy không thể dùng Thi thiên làm lời cầu nguyện của riêng mình được. Điển hình là những Thi thiên nói về sự vô tội, về sự tha thứ, và một vài Thi thiên nói về sự thương khó. Nhưng những lời cầu nguyện này là Lời của Chúa Thánh Linh. Người tín hữu không thể viện một lý do mơ hồ nào mà cho rằng những lời này đã lỗi thời hoặc thuộc về thời “tiền tôn giáo”. Như vậy, ta không thể hiểu, mà cũng không thể cầu nguyện bằng những Lời Kinh Thánh này. Ta có thể đọc, nghe, có thể kinh ngạc và hứng khởi về những Lời này, nhưng những Lời này vẫn là lời cầu nguyện của một Người khác. Ta không thể cầu nguyện bằng những Lời này, mà cũng không thể loại bỏ những Lời này ra ngoài Kinh Thánh.
            Trong trường hợp này, đáng lẽ ta nên tự nhủ rằng, trước hết ta cầu nguyện bằng những Thi thiên mà mình có thể hiểu được. Đáng lẽ ta nên tạm gác lại những điểm khó hiểu trong Kinh Thánh mà trở về với những điểm giản dị và dễ hiểu trước.
            Tuy nhiên, chính điểm khó hiểu này cho phép ta có một cái nhìn sơ khởi vào sự mầu nhiệm của Thi thiên. Ta cầu nguyện bằng những Thi thiên đó nhưng không dám cầu bằng môi miệng, mà phải lắp bắp và sợ hãi. Điều này cho phép ta suy diễn rằng, Người cầu nguyện bằng Thi thiên phải là một Người khác hẳn chúng ta, là Người quả quyết mình vô tội, là Người dám kêu nài toà án của Đức Chúa Trời, là Người đã chịu đau khổ cùng tận. Người đó không ai khác hơn là chính Chúa Giê-xu Cứu Thế. Chính Chúa là Người cầu nguyện bằng những Thi thiên đó và bằng tất cả các Thi thiên. Kinh Thánh Tân ước và Hội Thánh đã nhận biết và minh chứng điều này. Con người Giê-xu Cứu Thế, Con Người thấu đáo đau khổ, nghèo khó và bệnh tật, cũng là Đấng hoàn toàn vô tội và công chính, cầu nguyện bằng Thi thiên qua môi miệng của Hội Thánh. Thi thiên như vậy đích thực là Lời Cầu nguyện của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Chúa đã cầu nguyện bằng Thi thiên, và Thi thiên đã trở thành Lời Cầu nguyện muôn đời của Chúa. Đó là lý do tại sao Thi thiên vừa là lời cầu nguyện với Chúa vừa là Lời của chính Chúa. Vì ở đây Chúa Cứu Thế vừa cầu nguyện vừa gặp gỡ chúng ta. Chúa Giê-xu Cứu Thế cầu nguyện bằng Thi thiên trong Hội Thánh của Ngài. Hội Thánh của Chúa và mỗi cá nhân cũng cầu nguyện, nhưng chỉ cầu nguyện thực sự khi Chúa Cứu Thế cầu nguyện qua Hội Thánh và qua mỗi cá nhân. Người cầu nguyện không nhân danh chính mình mà cầu nguyện, nhưng nhân danh Chúa Giê-xu Cứu Thế. Người cầu nguyện không cầu nguyện vì nhu cầu thiên nhiên, nhưng cầu nguyện vì mang hình hài của con người Cứu Thế, cầu nguyện dựa trên Lời cầu nguyện của con người Giê-xu Cứu Thế. Chỉ nhờ đó mà lời cầu nguyện mới được nhậm. Vì Chúa Cứu Thế cũng cầu nguyện Thi thiên - Cầu nguyện của mỗi cá nhân và của Hội Thánh trước Ngôi Đức Chúa Trời, và hơn nữa, vì những người cầu nguyện ở đây hoà mình vào Lời Cầu nguyện của Chúa Giê-xu Cứu Thế, nên lời cầu nguyện vang đến tai Đức Chúa Trời. Như thế, Chúa Cứu Thế trở thành Đấng Cầu Thay của chúng ta.
            Thi thiên là Lời Cầu nguyện của Chúa Cứu Thế cầu thay cho Hội Thánh của Ngài. Nay Chúa Cứu Thế ở với Chúa Cha, nhưng những con người mới của Chúa Cứu Thế, Thân-thể-Chúa-Cứu-Thế-trên-trần-thế, tiếp tục cầu nguyện Lời Cầu nguyện của Chúa cho đến khi thời gian chung kết. Lời Cầu nguyện của Chúa không phải là lời riêng của một chi thể, mà là lời của toàn Thân-thể-Chúa-Cứu-thế. Lời Thi-thiên mà một cá nhân không thể hiểu và không thể dùng làm lời cầu nguyện của riêng mình sẽ trở thành sống động qua toàn thể Hội Thánh. Vì thế cầu nguyện bằng Thi thiên là cách cầu nguyện đặc biệt của cộng đồng. Nếu một câu hoặc một Thi thiên không thể là lời cầu nguyện của riêng tôi thì câu hoặc Thi thiên đó sẽ là lời cầu nguyện của một người khác trong cộng đồng. Như vậy lời cầu nguyện mới đích thực là lời cầu nguyện của con người Giê-xu Cứu Thế đích thực và của Thân-thể-Chúa-trên-trần-thế.
            Qua Thi thiên chúng ta học tập cầu nguyện dựa trên Lời Cầu nguyện của Chúa Cứu Thế. Thi thiên là một trường học dạy cầu nguyện.
            Ở đây, chúng ta học được điểm thứ nhất : Cầu nguyện là gì? Cầu nguyện là dựa vào Lời Đức Chúa Trời, là cầu nguyện dựa vào Lời Hứa. Lời cầu nguyện của tín hữu đặt căn bản trên Lời Chúa đã mạc khải chứ không có liên hệ đến những ước muốn vị kỷ của con người. Chúng ta cầu nguyện dựa vào lời cầu nguyện của con người đích thực Giê-xu Cứu Thế. Kinh Thánh dạy, rằng Chúa Thánh Linh cầu nguyện trong và cho chúng ta, rằng Chúa Cứu Thế cầu nguyện cho chúng ta, rằng chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thực sự với Đức Chúa Trời trong danh Chúa Giê-xu Cứu Thế.
            Điểm thứ hai chúng ta học được từ lời cầu nguyện bằng Thi thiên là chúng ta nên cầu nguyện gì. Phạm vi của Thi thiên chắc chắn rộng lớn hơn kinh nghiệm của mỗi cá nhân chúng ta. Tuy nhiên trong đức tin, mỗi cá nhân đều có thể cầu nguyện tất cả những lời cầu nguyện của Chúa Cứu Thế. Đó là những lời cầu nguyện của con người đích thực và chỉ có Chúa mới có được những kinh nghiệm trong những lời cầu nguyện này.
            Chúng ta có thể cầu nguyện bằng những Thi thiên nói về sự trả thù không? Vì là tội nhân và vì khi đọc những Thi thiên nói về sự trả thù chúng ta thường có ngay những ý tưởng gian ác nên đáng lẽ chúng ta không thể dùng những Thi thiên này để cầu nguyện. Nhưng Chúa Cứu Thế - Đấng đã chịu tất cả những sự trả thù của Đức Chúa Trời thay cho chúng ta, Đấng đã tha thứ cho kẻ thù, Đấng chịu sự trả thù để kẻ thù được tự do - ở trong chúng ta nên chúng ta, những chi thể của Chúa, có thể dùng những Thi thiên nói về sự trả thù để cầu nguyện, cầu nguyện qua và từ tâm hồn của Chúa.
            Chúng ta có thể dùng Thi thiên để tự xưng mình vô tội, sùng đạo và công chính không? Thực ra, tự sức chúng ta, chúng ta không thể dùng những Thi thiên nói về sự vô tội, sùng đạo và công chính làm lời cầu nguyện của tâm hồn tráo trở của mình được. Nhưng chúng ta có thể và phải dùng những Thi thiên đó để cầu nguyện với tâm hồn vô tội và trong sạch của Chúa Giê-xu Cứu Thế, và với sự vô tội của Chúa mà chúng ta được phép dự phần trong đức tin; vì “huyết và sự công chính của Chúa Cứu Thế là trang sức và áo choàng của chúng ta” nên chúng ta có thể và nên cầu nguyện bằng những Thi thiên này. Qua Chúa những Thi thiên này cũng thuộc về chúng ta.
            Chúng ta không thể hiểu, không thể biết được ý nghĩa của những Thi thiên nói về sự thương khó, chúng ta có thể cầu nguyện bằng những Thi thiên đó không? Chúng ta cần cầu nguyện bằng những Thi thiên nói về sự thương khó, không phải để dấn thân vào những điều mà mình không có kinh nghiệm, cũng không phải để tự than thân trách phận, nhưng vì những sự thương khó này đích thực và có thực trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, vì con người Giê-xu Cứu Thế đã chịu bệnh tật, đau đớn, nhục nhã và chịu chết, và vì tất cả mọi xác thịt đều cùng chịu thương khó và chịu chết trong sự thương khó và cái chết của Chúa. Chúng ta có quyền cầu nguyện bằng những Thi thiên nói về sự thương khó này vì cớ tất cả những điều đã xảy ra cho chúng ta trên cây thập tự của Chúa Cứu Thế, vì cớ cái chết của con người cũ của chúng ta, và vì cớ tất cả những điều đã xảy ra cho chúng ta từ khi chúng ta chịu báp-tem. Qua cây thập tự của Chúa Giê-xu, Thân-thể-Chúa-trên-trần-thế có thể dùng những Thi thiên nói về sự thương khó này làm lời cầu nguyện phát xuất từ trong tâm hồn mình.
            Điểm thứ ba chúng ta học được từ lời cầu nguyện bằng Thi thiên là sự cầu nguyện cộng đồng. Khi Thân-thể-Chúa-Cứu Thế cầu nguyện, tôi, một cá nhân, nhận biết rằng lời cầu nguyện của tôi chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ lời cầu nguyện của Hội Thánh. Tôi học cầu nguyện lời cầu nguyện của Thân-thể-Chúa. Tôi vươn mình ra khỏi những ước nguyện riêng tư và cầu nguyện một cách vô tư. Nhiều Thi thiên đã được các Hội Chúng thời Cựu ước dùng để cầu nguyện theo thể đối đáp. Thể thơ parallelismus membrorum, là thể thơ có vế thứ hai lập lại cùng một sự việc nhưng với một lời thơ khác, không phải chỉ thuần tuý là một thể thơ mà thôi, nhưng cũng có ý nghĩa thần học. Trường hợp điển hình là Thi thiên 5. Trong Thi thiên này có hai tiếng ngâm, cả hai đều thưa với Đức Chúa Trời cùng một lời cầu nguyện nhưng mỗi tiếng ngâm một lời thơ khác. Phải chăng điều này dẫn chứng rằng, người cầu nguyện không cầu nguyện một mình, nhưng luôn luôn có một người thứ hai, một Người khác, một phần tử của Hội Thánh, của Thân-thể-Chúa, vâng, chính Chúa Giê-xu Cứu Thế, cũng cùng cầu nguyện chung để lời cầu nguyện của mỗi cá nhân được nhậm?
            Cũng tương tự như vậy, thể thơ lập đi lập lại cùng một sự việc này làm cho Thi thiên 119 dài dường như bất tận. Điều này cho ta hiểu rằng nếu muốn mỗi lời cầu nguyện thấm sâu vào lòng, ta phải lập đi lập lại nhiều lần, rằng cầu nguyện không phải là một lần dốc đổ tâm hồn - vui hoặc buồn - , nhưng là một tiến trình học hỏi không ngừng, là tiếp thu, là ghi tạc vào ký ức ý muốn của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Trong tác phẩm giải nghĩa Thi thiên của mình, Oetinger đã nhấn mạnh một chân lý rất sâu nhiệm khi sắp xếp các Thi thiên vào bảy lời cầu xin của bài Cầu nguyện chung “Lạy Cha”. Oetinger muốn nói rằng, các Thi thiên hàm ý những lời cầu xin ngắn ngủi trong Bài cầu nguyện của Chúa. Vì thế, tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta thật ra chỉ là Bài cầu nguyện của Chúa. Nếu càng đi sâu vào các Thi thiên, chúng ta sẽ càng cầu nguyện bằng các Thi thiên thường xuyên hơn, và lời cầu nguyện của chúng ta sẽ càng giản dị hơn, càng phong phú hơn.

Một Ngày Với Tha Nhân

Lạy Chúa! Lúc sương mai còn đọng
chúng con đồng thờ phượng Chúa cao sang.
Buổi tối, lúc mặt trời đà lặn
chúng con đồng hiệp nguyện hướng về Ngài.
Xin dâng lên lời ca tôn đại Chúa
hiện nay và mãi mãi đời đời.
           
(Luther, dựa theo Ambrosius)

Một ngày bắt đầu

            “ Hãy để cho Lời Chúa Cứu Thế sống động trong anh em” (Cô-lô-se 3:16).
            Một ngày trong thời Cựu ước bắt đầu vào buổi tối và chấm dứt vào chiều hôm sau, lúc mặt trời lặn. Đó là thời gian mong đợi.
            Một ngày trong thời Tân ước bắt đầu vào lúc hừng đông và chấm đứt vào sáng hôm sau lúc ánh sáng ban mai vừa loé. Đó là thời gian ứng nghiệm, thời gian phục sinh của Chúa. Chúa sinh ra vào ban đêm, ánh sáng đi vào bóng tối. Khi Chúa Cứu Thế đau thương và chịu chết trên cây thập tự, giữa trưa đã trở thành giữa khuya. Nhưng khi Chúa Cứu Thế chiến thắng mộ phần, lúc đó là hừng đông của buổi sáng phục sinh. Bài ca ca tụng “Mặt trời công chính” của Hội Thánh Cải Chánh có lời như sau:
“Buổi sáng sớm, lúc mặt trời mọc,
Chúa Cứu Thế của tôi phục sinh;
đánh đuổi tội lỗi của đêm khuya,
đem lại ánh sáng, sự cứu rỗi và sự sống.
Ha lê lu gia!”
           
Đó là mặt trời mọc lên cho Hội Thánh đang mong đợi (
Ma-la-chi 4:2), và “những người yêu mến Chúa được giống như mặt trời, mọc lên rực rỡ” .
            Ban mai thuộc về Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Phục sinh. Lúc ánh sáng vừa loé là lúc Hội Thánh kỷ niệm buổi sáng sớm ngày hôm đó, buổi sáng Chúa chiến thắng cái chết, ma quỉ và tội lỗi, buổi sáng Chúa ban sự sống mới và sự cứu rỗi cho con người.
            Ngày nay chúng ta, những người không còn sợ hãi, cũng không quí trọng đêm tối như người xưa nữa, còn có thể cảm thông được niềm vui mừng của các vị thánh tổ và của Hội Thánh đầu tiên khi ánh sáng ban mai vừa loé không? Chúng ta cần học tập ca tụng Đức Chúa Trời Ba Ngôi vào mỗi buổi sáng tinh sương. Chúng ta ca tụng Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hoá đã bảo vệ sự sống của chúng ta trong đêm tối và đánh thức chúng ta dậy để sống một ngày mới. Chúng ta ca tụng Chúa Con là Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại, Đấng đã chiến thắng mộ phần và địa ngục cho chúng ta, và là Đấng Thắng đang sống giữa chúng ta. Chúng ta ca tụng Chúa Thánh Linh là Đức Chúa Trời, Đấng vào lúc trời còn tinh sương ban Lời của Đức Chúa Trời làm ánh sáng soi sáng tâm hồn chúng ta, đánh đuổi bóng tối và tội lỗi ra khỏi cuộc đời chúng ta, và dạy chúng ta cầu nguyện. Nếu biết ca tụng Chúa như thế, chúng ta sẽ linh cảm được niềm vui của các anh chị em sống hoà thuận với nhau, sau một đêm dài họp lại với nhau vào buổi sáng sớm để cùng nhau ca tụng Chúa, cùng nhau nghe Lời Chúa và cùng nhau cầu nguyện. Ban mai không thuộc về cá nhân một người nhưng là của toàn thể Hội Thánh của Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Ban mai thuộc về gia đình tín hữu, thuộc về các cộng đồng anh chị em trong Chúa. Các bản thánh ca cổ của Hội Thánh ca tụng Đức Chúa Trời vào ban mai vẫn còn văng vẳng. Các anh chị em vùng Boehmen đã ca rằng:
Ban ngày đánh đuổi đêm tối;
hỡi tín hữu Chúa Cứu Thế,
hãy tỉnh táo và thức dậy,
ca tụng Chúa Trời, là Chúa.
Hãy nhớ, Chúa là Chúa Trời
dựng bạn theo hình tượng Chúa,
để bạn dễ nhận ra Ngài.

Ban ngày bắt đầu và ló dạng,
Ôi Chúa, chúng con ca tụng Chúa,
Chúng con cám ơn Chúa yêu quí,
Đã gìn giữ chúng con trong đêm.
Xin gìn giữ chúng con hôm nay
Là những người hành hương đau khổ,
Xin giúp, xin gìn và xin giữ,
Để chúng con tránh mọi xấu xa.

Vì ánh sáng ban ngày đã rọi,
Anh em hỡi, hãy cùng cảm tạ
Đức Chúa Trời nhân lành, từ bi
Bảo vệ chúng ta trong đêm tối.
Lạy Chúa, chúng con xin dâng hiến
Lời nói, việc làm và ước nguyện.
Xin Chúa dùng theo ý muốn Chúa,
để công việc chúng con tốt đẹp.
           
Một cộng đồng sống theo Lời Chúa cần bắt đầu buổi sáng sớm bằng một Lễ Thờ Phượng chung. Toàn thể cộng đồng họp lại để ca tụng và cảm tạ, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Lời cầu nguyện và lời ca vang lên, xuyên qua sự yên tĩnh của ban mai. Sau một đêm dài yên lặng chúng ta sẽ dễ cảm nhận lời ca và Lời Chúa hơn. Kinh Thánh dạy rằng, ý nghĩ và lời nói đầu tiên trong một ngày của Chúa phải là: “Buổi sáng Chúa sẽ nghe tiếng con, buổi sáng con sẽ trình bày duyên cớ con trước mặt Chúa (Thi thiên 5:3), “Buổi sáng lời cầu nguyện con sẽ thấu đến trước mặt Chúa” (
Thi Thiên 88:13), “Hỡi Đức Chúa Trời, lòng con tin chắc, lòng con tin chắc; con sẽ hát, phải, con sẽ hát ngợi khen. Hỡi vinh quang ta, hãy tỉnh thức! Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình ta sẽ tỉnh thức thật sớm” (57:7-8). Vào lúc bình minh người tín hữu khao khát Đức Chúa Trời: “Con thức trước rạng đông và kêu cầu; con trông cậy nơi Lời Chúa” (119:147). “Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời con, vừa sáng con tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, linh hồn con khát khao Chúa, thân thể con mòn mỏi về Chúa” ( 63:1).
            Sách “Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn” dạy: “Người ta biết rằng phải cảm tạ Chúa trước khi mặt trời mọc, và đi gặp Chúa trước khi ánh sáng chiếu” (Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn 16:28), và sách Giê-xu Si-rách khuyên dạy riêng các thầy giáo luật phải “nhớ thức dậy sớm để tìm kiếm Chúa là Đấng đã dựng nên mình và cầu nguyện trước mặt Chúa Chí Cao” (Giê-xu Si-rách 39:6).
            Kinh Thánh cũng mô tả ban mai là thời gian Chúa giúp đỡ đặc biệt. Đối với một thành phố thuộc về Chúa, “Đức Chúa Trời ở giữa thành phố ấy; thành phố ấy sẽ không bị rúng động. Vừa rạng đông Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ nó” (
Thi  46:5). Và: “Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm” (Ca-thương 3:23).
            Người tín hữu không nên bắt đầu ngày mới với những quay cuồng vội vã của cuộc đời. Chúa là Đấng dựng nên ngày mới và cai quản ngày mới ấy. Bóng tối mập mờ của ban đêm mơ mộng sẽ nhường chỗ cho ánh sáng của Chúa Cứu Thế và Lời của Ngài. Tất cả những sự hỗn độn, bất khiết, lo lắng, sợ hãi đều biến mất. Cho nên vào buổi sáng sớm, có nhiều ý nghĩ và lời nói vô ích không cần phải thốt ra. Ý nghĩ và lời nói đầu tiên phải là Ý và Lời của Chúa, của Cứu Chúa của cuộc đời chúng ta. “Con đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Chúa Cứu Thế sẽ chiếu sáng con” (Ê-phê-sô
5:14).
            Kinh Thánh tường thuật rằng, các tôi tớ của Chúa như Áp-ra-ham, Gia-cốp, Môi-se, Giô-suê đã thức dậy sớm để tìm kiếm Chúa và thực hiện mạng lịnh của Ngài
(xem Sáng thế ký 19:27; 22:3; Xuất Ê-díp-tô ký 8:16; 9:13; 24:4; Giop 3:1; 6:12 v.v.!).
            Các sách Phúc Âm tường thuật rằng, Chúa Giê-xu “sáng hôm sau, trời còn mờ mờ, thức dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện tại đó” (
Mac 1:35).
            Có người thức dậy sớm vì lo lắng và thiếu bình an. Kinh Thánh dạy rằng: “Uổng công thay cho các con thức dậy sớm, đi ngủ trễ, và ăn bánh lao khổ” (
Thi  127:2). Thức dậy sớm vì yêu Chúa mới đáng quí. Đó là thói quen của các tôi tớ Chúa trong Kinh Thánh.
            Giờ tĩnh nguyện chung vào buổi sáng gồm có phần đọc Kinh Thánh, hát Thánh ca và cầu nguyện. Một cộng đồng càng có nhiều thành phần khác nhau, giờ tĩnh nguyện buổi sáng càng cần phải linh động. Đó là điểm rất cần thiết. Một cộng đồng gia đình có trẻ con cần tĩnh nguyện khác với các nhà thần học. Ta không thể đem giờ tĩnh nguyện của một cộng đồng này đến áp dụng cho một cộng đồng khác; giờ tĩnh nguyện của các nhà thần học không thể giống như giờ tĩnh nguyện của một gia đình có trẻ con.

Tuy nhiên, mỗi giờ tĩnh nguyện chung đều gồm có:
Lời của Kinh Thánh ,
Bài ca của Hội Thánh ,
Lời cầu nguyện của cộng đồng .

Chúng ta sẽ cùng bàn với nhau về những điểm này trong những lần phát thanh tới.

Dietrich Bonhoefer

Chuyển ngữ: Ms Phạm Xuân Bahnar Trung

            Tình yêu tâm lý sống nhờ những dục vọng mờ ám không được kiểm soát và không thể kiểm soát được. Tình yêu thuộc linh sống trong sự trong sáng của việc làm do chân lý thúc đẩy. Tình yêu tâm lý tạo ra nô lệ, ràng buộc, gắng gượng, tình yêu thuộc linh tạo ra tự do cho anh chị em trong Lời Chúa.
            Tình yêu tâm lý vun trồng những đoá hoa giả tạo, tình yêu thuộc linh sinh bông kết trái , xanh chín dưới bầu trời của Đức Chúa Trời, dưới mưa, bão và mặt trời theo ý muốn tốt lành của Ngài.
            Đối với tất cả các cộng đồng tín hữu, vấn đề sinh tồn là kịp thời nhận thức điểm dị biệt giữa lý tưởng con người và thực thể thiên thượng, giữa mối tương giao thuộc linh và mối tương giao tâm lý. Vấn đề sống chết của một cộng đồng tín hữu là sớm ý thức được điểm này. Nói một cách khác: một cộng đồng sống theo Lời Chúa chỉ lành mạnh khi cộng đồng đó không phải là một phong trào, một dòng tu, một hội đoàn, một collegium pietatis, nhưng là một phần của Một Hội Thánh Phổ thông của Chúa và chia sẻ với toàn thể Hội Thánh nỗi khó khăn, cuộc chiến đấu và Lời Hứa của Chúa. Những nguyên tắc tuyển chọn và thanh lọc người không dựa vào nhận xét khách quan trong khi làm việc chung với nhau nhưng dựa vào mối liên hệ gia đình và kỳ thị địa phương đều là mối nguy hiểm cho cộng đồng tín hữu. Trên con đường tuyển chọn về phương diện tinh thần và thuộc linh, yếu tố tâm lý luôn luôn mò vào, cướp mất tiềm năng thuộc linh của cộng đồng và hiệu năng của Hội Thánh, rồi đẩy Hội Thánh đến chỗ lạc đạo. Loại trừ những người yếu đuối, kém quan trọng, và những người có vẻ vô dụng ra khỏi một cộng đồng tín hữu tức là loại trừ Chúa Cứu Thế là Đấng đang gõ cửa lòng của những người anh chị em đau khổ đó. Vì thế chúng ta cần thận trọng về điểm này.
            Nếu không nhận xét cẩn thận ta có thể nghĩ rằng, lý tưởng và thực thể, yếu tố tâm lý và yếu tố thuộc linh dễ hoà đồng với nhau nhất trong một cộng đồng gồm có nhiều thành phần khác nhau, cụ thể là trong hôn nhân, gia đình, tình bạn, nghĩa là khi yếu tố tâm lý đóng vai trò then chốt trong sự hình thành của cộng đồng, còn yếu tố thuộc linh chỉ đóng vài trò bổ sung mà thôi. Ta tưởng rằng, chỉ trong những cộng đồng như vậy hai yếu tố này mới dễ bị lẫn lộn hoặc hoà đồng với nhau, còn những cộng đồng hoàn toàn thuộc linh không bị mối nguy hiểm này đe doạ. Nhưng nghĩ như vậy là lầm. Kinh nghiệm cho thấy thực tế hoàn toàn khác hẳn. Một cuộc hôn nhân, một gia đình, một tình bạn thường thấu đáo ranh giới của những yếu tố xây dựng mối tương giao của mình; nếu lành mạnh, những cộng đồng này biết rõ ranh giới giữa yếu tố tâm lý và yếu tố thuộc linh nằm ở đâu. Những cộng đồng này biết rằng sự tương giao thuộc thể-tâm lý trái ngược với sự tương giao thuộc linh. Trái lại trong một cộng đồng hoàn toàn có tính cách thuộc linh yếu tố tâm lý rất dễ xen vào và hoà đồng. Một cộng đồng hoàn toàn thuộc linh chẳng những rất nguy hiểm nhưng cũng rất bất thường. Nếu một cộng đồng thuộc linh không có yếu tố thuộc thể-gia đình hoặc không có sự tương giao qua công việc, nếu không có những sinh hoạt hằng ngày với tất cả những nhu cầu đòi hỏi của những con người đang tích cực hoạt động, thì ở đó ta phải cẩn thận và cảnh giác.
            Có lẽ tất cả mọi tín hữu đều được Đức Chúa Trời ban cho ít nhất một lần trong đời cái kinh nghiệm phước hạnh khó quên về mối tương giao chân thật với các anh chị em trong Chúa. Nhưng kinh nghiệm này không gì khác hơn là ân huệ Chúa ban thêm bên cạnh thức ăn hằng ngày mà Chúa ban cho sự sống của cộng đồng tín hữu. Chúng ta không xứng đáng nhận được những kinh nghiệm này, và chúng ta không sinh hoạt với các tín hữu khác vì cớ những kinh nghiệm này. Yếu tố nối kết chúng ta lại với nhau không phải là kinh nghiệm về tình anh chị em nhưng là niềm tin vững chắc nơi tình anh chị em trong Chúa. Đức Chúa Trời đã và sẽ hành động trên tất cả chúng ta. Trong đức tin chúng ta nắm chắc món quà vô giá này. Đây là món quà làm cho chúng ta vui mừng và hạnh phúc, cũng làm cho chúng ta sẵn sàng từ khước tất cả các kinh nghiệm mà Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta. Chúng ta liên hệ với nhau không phải trong kinh nghiệm nhưng trong đức tin.
            “Kìa, anh em sống hoà thuận với nhau, thật tốt đẹp thay!” (
Thi Thiên 133:1). Đó là lời Kinh Thánh khen tặng những cộng đồng sống theo Lời Chúa. Nếu nghiêm túc lý giải từ “hoà thuận”, câu Kinh Thánh này có nghĩa: “Nếu anh chị em sống với nhau trong Chúa Cứu Thế”; vì chỉ có Chúa Giê-xu Cứu Thế duy nhất là sự hòa thuận của chúng ta. “Chúa là sự bình an của chúng ta” (Eph. 2:14). Chúng ta đến với nhau, vui với nhau và tương giao với nhau chỉ nhờ Chúa mà thôi.