Giải Nghĩa Tin Lành Lu-ca


Ví Dụ Về Người Thâu Thuế Và Người Pha-ri-si

 Chuyển ngữ: Nguyễn Tín Nhân
Từ The Gospel according to St Luke, H.D.M. Spence, D.D.
Và Joseph S. Exell, M.A.

“Ngài lại phán thí dụ nầy về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dễ kẻ khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cung không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về món lợi của tôi. Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên.” (Lu-ca 18:9-14)

            Ngài lại phán thí dụ nầy … Với thí dụ “Người thâu thuế và người Pha-ri-si” nầy, Lu-ca kể lại những gì ông nhớ được về cuộc hành trình cuối của Chúa đến Giê-ru-sa-lem. Những dữ kiện xảy ra sau đó đã diễn ra gần Giê-ru-sa-lem; câu chuyện Lu-ca kể ở đây rất giống với câu chuyện trong Phúc Âm Ma-thi-ơ và Mác. Không có chỗ nào ghi nhận thời gian và địa điểm giúp chúng ta xác định Chúa, vị Giáo Sư lớn, đã dạy bài học nầy trong giai đoạn nào; dầu vậy, có lẽ Chúa đã dạy  câu chuyện nầy trong thời điểm của cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem, lúc Ngài sắp sửa kết thúc chức vụ.

            Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người thâu thuế và một người Pha-ri-si … thí dụ về người thâu thuế và người Pha-ri-si là một chương quan trong trong lời tự biện của Chúa Giê-xu – nếu chúng ta dấm cho rằng Chúa tự biện cho lòng yêu thương kẻ có tội, cho việc giao tế với người thâu thuế và tội nhân. Bằng lời kể đơn sơ, câu chuyện cho người ta biết làm thế nào để được cứu: chẳng phải bởi điều công nghĩa người ta làm ra, mà là bởi ơn khoan hồng; nói cách khác, bởi lòng thương xót, ban tặng của Đức Chúa Trời. Xã hội Do Thái giáo thời Chúa chúng ta, mà đại diện là những người Pha-ri-si, đã hoàn toàn hiểu sai chân lý thiêng liêng. Họ cho mình được cứu dựa trên hai căn bản: (1) vì họ thuộc dòng giống được chọn; (2) vì họ nghiêm khắc thực hành một cách chi li những điều khoản nhỏ trong luật pháp mà nhiều thứ do chính họ và cha ông họ đặt ra. Chiếu theo hai căn bản nầy, họ cho mình có quyền được cứu, được cuộc sống vĩnh hằng phước hạnh. Cho mình có quyền được cứu không thôi chưa đủ, họ còn buộc tội bằng những lời hết sức nặng nề tất cả những dân tộc khác, kể cả những người Do Thái, bất kỳ ai lơ là, không thực hành các lề luật, nghi thức của một thứ luật mà phần lớn được định ra trong các trường học của các Ra-bi (hay các thầy dạy luật Do Thái). Hai ví dụ điển hình cực đoan được đưa ra ở đây: một người theo Do Thái giáo tự mãn, độc quyền và cứng ngắc; và một công chức Do Thái làm việc cho nhà cầm quyền La-mã bị mọi người thù ghét, có hiểu biết chút ít hoặc không hề biết về luật pháp của Do Thái giáo, nhưng khát khao có cuộc sống cao hơn, thèm muốn sự bình an bên trong mà rõ ràng mình khó có được. Hai con người ấy: người Pha-ri-si và kẻ có tội, đều đi đến nhà thánh của Đức Chúa Trời, hay đền thờ, chỗ con người đến gần Vua Đời Đời.

            Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác. Hình ảnh người Pha-ri-si ở đây rất giống với chuyện thật ở đời, khi ta lấy lời cầu nguyện của ông ra so với lời cầu nguyện của một Ra-bi trong kinh Talmud (Bộ Kinh Luật theo truyền thống cua dân Do Thái). Khi Ra-bi Nechounia rời trường học, ông thường nói thế nầy:”Lạy Chúa đời đời, con tạ ơn Ngài, là Đức Chúa Trời của con, đã cho con có phần với những kẻ theo học ở đây thay vì chạy vòng vòng ở các tiệm buôn. Con thức dậy sớm giống như họ, nhưng là để nghiên cứu luật pháp, chứ không phải để làm những việc vô ích. Con có gặp bất trắc như họ, nhưng con được tưởng thưởng, còn họ thì không. Con và họ cùng đấu tranh, nhưng con là cho cuộc sống tương lai trong khi họ chỉ đi đến bờ vực của hủy diệt.”(Theo chuyên luận Berachôth)

            Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần. Trong inh luật Môi-se không có điều khoản nầy. Chỉ có một ngày kiêng ăn duy nhất được truyền dạy, đó là Ngày Chuộc Tội (Lê-vi ký 16:29). Vào thời tiên tri  Xa-cha-ri (Xa-cha-ri 8:19), một ngày kiêng ăn đã tăng thành bốn ngày. Nhưng việc kiêng ăn 2 lần trong tuần là để hành động tuân thủ nặng nề các luật do Luật Truyền Miệng đặt ra. Thứ năm và thứ hai là hai ngày được chỉ định phải kiêng ăn, vì theo truyền miệng, vào những ngày ấy, Môi-se đã đi lên và đi xuống núi Si-nai. (Hãy đối chiếu Kinh Talmud, chuyên đề Bava Khama 82,1)

            … và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Ở đây, lại một lần nữa, những điều mà luật Môi-se truyền dạy, chỉ có việc dâng phần mười lúa mìa, rượ, dầu và gia súc. Nhưng các trường phái Ra-bi sau nầy dạy người ta phải dâng phần mười tất cả những gì mình có, kể cả bạc hà, quế và thì là. Và khi làm được như thế, người Pha-ri-si mang ảo tưởng rằng mình đã được sự cứu rỗi đời đời, quên rằng phần mười mà ông đã trả cũng chính là phàn mười những tài vật mà ông chỉ quản lý được một thời hạn nào đó. Những phần mười phải được trả lại cho Đấng Sở Hữu Thật của nó là chính Đức Chúa Trời. Liệu việc dâng phần mười ấy có được kể như là một cái quyền bắt Đức Chúa Trời phải báo trả lại cho mình chăng? Người Pha-ri-si cũng khoe rằng mình không phải là kẻ tham lam bất nghĩa: phải chăng ông đã quên những lúc thèm muốn và tham lam của mình? Ông bảo mình không gian dâm, nhưng có biết bao lần, những tư tưởng gian ác đã đến cư ngụ trong lòng? Ông vui vì mìnhnh không giống những người thâu thuế và những kẻ đại loại như thế, phải chăng ông đang nghĩa đến những cám dỗ đáng buồn mà người khác mới găp phải, còn mình thì không? Ông tán tụng mình trong việc dâng hiến phần mười và các thứ khác, phải chăng ong không nhớ ra mình đã sống ích kỷ, xấu xa như thế nào? Phải chăng ông không thấy được mình sống xa hoa phung phí thế nào và hàng ngàn người chung quanh phải sống thiếu thốn ra sao? Phải chăng ông chỉ hào phóng để đòi Chúa phải cho mình lại sự cứu rỗi đó thôi! Tất cả những suy nghĩ đó và còn nhiều hơn nữa trong câu chuyện dẫn giải rất thú vị của Chúa Giê-xu, Đấng cho người ta thấy sự cứu rỗi – nếu con người may mắn được ban cho – phải hoàn toàn là một sự ban tặng không đòi lại gì của Đức Chúa Trời.

            Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Đau buồn và tan vỡ trong tim, người thâu thuế chẳng nhớ cũng chẳng nghĩ đến những việc nghĩa mình đã làm, hay những tội lỗi đặc biệt mình đã phạm; chẳng có ý tưởng nào đến với lòng, như là: “Con đã làm được một số việc lành; con không hoàn toàn xấu xa và tội lỗi.” Ông cảm thấy trong lòng mình, cái xấu đã khuất lấp những cái tốt đến nỗi ông chẳng có thể biện hộ gì cho mình được. Thế nhưng ông khát khao được cứu rỗi, nên đã gieo mình hoàn toàn dưới sự thương xót và tình yêu của Đức Chúa Trời bằng lời cầu nguyện buồn rầu: “Lạy Chúa, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!” Ông đã dâng lên lời đó với Chúa. Không giống như người Pha-ri-si, là kẻ nghĩ mình tốt hơn người khác; trong sự đau buồn hạ mình, rõ ràng người thâu thuế đã cho rằng người khác tốt hơn mình. Nhưng ông vẫn tin cậy nơi Đức Chúa Trời, rằng trong Ngài, kể cả một kẻ có tội như ông, cũng có thể được thương xót.

            Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. Và người thâu thuế có lý; vẫn còn có sự thương xót cho một con người dầu đã hoàn toàn vấy bẩn vì tội lỗi như ông. Những lời kết luận của Chúa thật đầy khích lệ. Lời cầu nguyện trong câu chuyện Chúa kể đã được nhậm. Chữ “Ta nói cùng các ngươi” của Chúa Giê-xu ở đây, theo sự diễn đạt khéo léo của Stier, còn có nghĩa là: “Ta nói cùng các ngươi, bởi ta biết, ta đã thấy và ta đã nghe rất nhiều trường hợp và những lời cầu nguyện như thế”. Qua thí dụ về lời cầu nguyện được ban ơn nầy, chắc rằng tội nhân nào trên trần gian nầy cũng có thể lấy can đảm đến cầu xin Đức Chúa Trời. Điều vĩ đại trong câu chuyện chính là sư gợi ý để khuyến khích tội nhân có lòng đớn đau, tan vỡ hãy chạy đến với Đức Chúa Trời, tin cậy nơi tình yêu lớn lao và sự thương xót của Ngài. Ta cũng không nên quên rằng, lời cầu nguyện của kẻ thâu thuế được lắng nghe trong đền thờ. Sự nhậm lời thầm lặng dường đã được ban cho trong việc người thâu thuế biết tìm đến một chỗ biệt riêng cho sự cầu nguyện.

            Thí dụ về người thâu thuế và người Pha-ri-si cho thấy tinh thần và điều kiện để có một lời cầu nguyện hiệu nghiệm. Chúng ta hãy để ý đến hai loại thính giả mà câu chuyện nầy muốn lưu ý đến. Chúa đang phán với những kẻ cho rằng mình là người công bình, vì tưởng như vậy họ đã khinh rẻ những kẻ khác. Trong một thí dụ trước đó (ví dụ về sự đến của Nước Đức Chúa Trời) Chúa có nói về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời. Tại đây, người Pha-ri-si tự cho mình là những kẻ được Đức Chúa Trời chọn lựa. Họ dương dương tự đắc vì niềm tin đó, họ xem mình là những kẻ công bình, vì họ giữ gìn luật pháp, cả luậ thành văn lẫn luật truyền khẩu. Thật vậy, người Pha-ri-si hết sức thận trọng làm theo từng điều khoản mà luật pháp yêu cầu; chẳng những thế, họ còn buộc cho mình gánh nặng là phải tuân hành luật pháp một cách cẩn thận, chi li quá đáng. Tội lỗi đang bao vậy họ là sự tự mãn phủ trên một trong hai con con người cùng đi lên đền thờ để cầu nguyện. Chúa đã lấy người thâu thuế, một hạng người bị xã hội thù ghét và theo người Pha-ri-si không sao có được chỗ trong nước thiên đàng ra để minh họa cho sự chọn lựa của Ngài. Lời dạy của Chúa phù hợp cho mọi thời đại. Sự phân rẽ và kiêu ngạo của người Pha-ri-si là hai đặc điểm nổi bật trong thời Chúa chúng ta, cũng dễ nhận thấy trong Hội thánh ngày nay. Cần thấy rõ khác biệt lớn  giữa những người Pha-ri-si được thiên hạ tôn trọng và những người thâu thuế bị khinh miệt. Một bên là người mang thẻ bài da rộng, dáng điệu khinh khỉnh, sự tách biệt phản ánh trong mọi nét đặc trưng: sắc mặt nghiêm trọng, thận trọng đếm bước khi đến đền thờ. Khi đã vào sân trong thì đứng thẳng người, kéo ngay lại chiếc áo thụng dành riêng cho việc cầu nguyện, rồi lướt mắt nhìn mọi người chung quanh, bỗng dưng mắt mũi tối sầm lại khi thấy người thâu thuế đứng cuối góc đền thờ. Rồi người Pha-ri-si ngước mắt lên. Ông nói mà không phải là cầu nguyện, cũng không phải để biện minh, người Pha-ri-si thì thầm với chính mình chứ không phải với Đức Chúa Trời. Ông nói những lời độc thoại, tự tán dương lòng thành kiền của chính mình. Ông đã nói câu “Tôi cảm tạ Chúa” (câu 11,12) không phải vì thấy mình được Chúa ban ân sủng và nhận thức rằng mình có được mọi điều là bởi Đấng Chí Cao thương xót, thêm sức; mà chính là để mời Đấng Tối Cao cùng ông ngưỡng mộ những đức tính cao đẹp đã khiến ông được trỗi hơn những người khác. Chỉ làm nổi đến một chừng mực nào đó, người Pha-ri-si mới đo lường được sự tuyệt hảo của mình và đạt đến đỉnh cao khi có người thâu thuế đứng đó. Chắc chắc ông phải là một kẻ đáng kính! Vua của thiên đàng chắc chắn phải hài lòng khi thấy một người kiêng ăn mỗi tuần hai lần và dâng một phần mười tất cả những gì mình có như ông! Còn bên kia là một con người đứng xa xa, dáng vẻ vội vã, dường như chỉ muốn đến để dốc đổ lòng mình ra trước Chúa. Không muốn làm phiền người hài lòng và tự mãn đang cùng thờ phượng Chúa với mình. Ông chẳng đòi hỏi chi hết và lòng không có một chút tự mãn nào. Trước mắt ông giờ đây chỉ có Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, dưới cái nhìn của Ngài mọi thứ trên trần gian đều phải nín lặng. Người thâu thuế chẳng ngước mắt lên cũng chẳng có gì để kể ra. Sự công nghĩa con người nếu có, chỉ như chiếc áo nhớp khi ta treo nó trước sự thánh khiết, toàn hảo của Chúa. Với người thâu thuế giờ đây chỉ có một lời cầu xin: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót tôi, vì tôi là kẻ có tội.” (câu 13). Cảm biết tình trạng tội lỗi của mình đang chế ngự trong lòng. Người thâu thuế chỉ còn một nơi nương náu là lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Đấng Christ kết luận: “Ta nói cùng các ngươi, đây mới chính là người được Đức Chúa Trời chọn chứ không phải kẻ kia.”“người nầy trở về nhà và được xưng công bình”. Thật là một ví dụ đầy ý nghĩa!

 

I.Phơi bày tận gốc sự kiêu ngạo thuộc linh và kết quả của nó

            Gốc rễ sự kiêu ngạo của người Pha-ri-si là chính việc đem “người khác” ra để đo với mình. Đức Chúa Trời không có trong tâm của ông. Bài hát của các Sê-ra-phim “Thánh thay, thánh thay, thánh thay, là Đức Giê-hô-va Vạn Quân”, chỉ là những lời giả dối vang ra. Trong đầu của người Pha-ri-si không có Chúa và sự thánh khiết của Ngài. Suy nghĩ của người Pha-ri-si hướng về chung quanh chứ không hướng lên trên. Chuẩn mực người Pha-ri-si hướng đến là chuẩn mực của xã hội con người. Họ “trung thành với luật pháp mà không hiểu biết”, tự đặt những điều cần có để làm cho mình ra công bình, và lúc sống đã cố thực hiện những chuẩn mực đó, lấy lợi thế mình có được trong việc thi hành luật pháp ra để nhìn người khác. Rồi khi thấy người khác sống không bằng chuẩn mực chọn lựa đó, người Pha-ri-si đã nói thầm: “Lạy Chúa, tôi cảm tạ Ngài, vì tôi không giống như họ”. Chữ “tôi” vênh váo mà một kẻ ở thế thượng phong thốt ra. Sự kiêu ngạo của người Pha-ri-si chính là một thứ ký sinh trùng của thói quen tôn giáo. Và với những người có thói quen tôn giáo, thói quen tôn giáo đã trở thành tôn giáo. Thói quen tôn giáo, hay sự biểu dương chi li và thành kính trng hành động và việc làm, trong chức vụ và phục vụ có thể chiếm phần lớn đời sống của họ. Thói quen đó có thể chiếm hết thời gian và suy tư. Người sống theo thói quen đó thường được xem như là những con người tin kính và đạo hạnh. Nhưng đây là một thứ đạo đức mà không có sự xúc cảm của một tâm linh đớn đau, tan vỡ. Đạo đức đó không có sức mạnh làm nên động lực của Phúc Âm. Trong một câu chuyện trước đó, chúng ta đã thấy được sự tương phản giữa thói quen tôn giáo với sự nồng ấm của tôn giáo thật trong bữa tiệc Si-môn, một người Pha-ri-si đãi, khi có một người đàn bà đến lau chân Chúa bằng những giọt nước mắt của mình. Ngài đã phán như thế nầy về bà: “Người nầy đã được yêu rất nhiều”. Lần nầy cũng là một người Pha-ri-si, nhưng đối diện đó là một người thâu thuế có tâm linh nghèo khó. Người Pha-ri-si hay kẻ có thói quen tôn giáo mà lòng không thật kính Chúa, sẵn sàng nghỉ yên vì thấy mình đã làm xong nhiệm vụ và đã phô bày đủ hết lòng nhiệt thành. Tin chắc mình là kẻ công bình, và vì tưởng mình công bình nên thấy mình hơn người khác: “Tôi không giống như những kẻ khác”, một ý tưởng kiêu ngạo gây ra tinh thần phân rẽ, tạo ra một tình cảm đẳng cấp. “Tôi” mới chính là người thuộc về thế giới đạo hạnh, còn “những kẻ khác” để chỉ những kẻ không thuộc về thế giới của tôi! Xin hãy giữ mình, đừng thỏa mãn yên nghĩ trong sự công bình giống như người Pha-ri-si nầy. Đừng lấy bề ngoài làm bề trong, vì những gì mình thực hiện được chưa chắc đã nói lên được bản chất thật của con người mình. Cũng hãy giữ mình trước những thứ được khai triển theo khuynh hướng đó – thói quen đem mình ra để so với những kẻ ở thế bất lợi hơn mình, thay vì mở mắt ra để thấy một sự công nghĩa đòi hỏi hết cả bản thân. Chính sự chắc ăn, tự tại, lên mình kiêu ngạo vì thấy mình công bình đã làm hư hỏng của lễ của rất nhiều người đi lên đền thờ để cầu nguyện.

 

II.Tuyên dương lòng khiêm nhường và phước hạnh của người có lòng khiêm nhường

            Khiêm nhường là gì? Đó là không cho nhận thức của riêng mình là nhận thức của Đức Chúa Trời như người Pha-ri-si nói trên. Không cho suy nghĩ xấu xa của mình là nhận thức thấu suốt và đáng sợ của Đấng Thánh và Chân Lý trọn vẹn, mà phải ghê tởm chính mình và lấy con mắt của tấm lòng để nhìn lên Đức Chúa Trời. Người Pha-ri-si thấy mình vô tội vì không thật biết Đấng Hằng Hữu. Thượng đế của ông là đấng có đặc điểm của giai cấp ông, một loại thần thánh mà ông đến để đòi quyền lợi vì mình thuộc giai cấp đó và làm những gì nó mong đợi. Còn người thâu thuế lấy lòng mình để nhìn Đức Chúa Trời, thấy được Ngài và khát khao sự thánh khiết của Ngài, chính khát khao đó đã chỉ ra những sai lầm ông đã phạm. Ông đã phạm tội với Chúa nhiều biết bao! Đã tham lam, gian ác và sống ích kỷ biết bao! Mọi thứ khác dường như đã lu mờ; giờ đây trong đền thờ chỉ có linh hồn ông đối diện với Đức Chúa Trời, và linh hồn đó khóc than: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót tôi!” Đó là lời than khóc của một linh hồn mà Đức Chúa Trời đã dành riêng cho Ngài. Mọi lời cầu nguyện đều không phải là cầu nguyện thật sự nếu chưa có lời than khóc nầy. Đây mới chính là một sự khẩn nài. Trong câu chuyện nầy, Đấng Christ nhắc cho chúng ta biết rằng khi bắt đầu sự cầu nguyện, chúng ta phải đặt mình vào tư thế của một tội nhân đến để xin sự thương xót của Đức Chúa Trời. Vì đó là lời cầu xin phải có trước hết, nên đó cũng là lời than khóc dâng lên mỗi khi cầu nguyện cùng Chúa. Ngài luôn xưng công nghĩa cho lời than khóc đó. Chúa đã ban sự thứ tha. Huyết Chúa Giê-xu rửa sạch mọi tội; không những thế thôi, còn giúp chúng ta nhìn biết tội lỗi, thấy được nhu cầu kêu xin sự thương xót của Đức Chúa Trời. Kêu xin sự thương xót của Đức Chúa Trời, phó trao con người tội lỗi của mình vào sự thương xót của Ngài chính là khiêm nhường. Được tha thứ nhiều chính là được yêu nhiều. Chứ không phải là đem mình ra để so với kẻ khác, bởi Đức Chúa Trời là mọi sự và trong mọi sự. Phước hạnh hay không cũng chính là đây. Kiêu ngạo khắc sâu trong bản chất, người Pha-ri-si trở về nhà với tàn lụi và nguyền rủa; chẳng có mùa xuân trong lòng, ánh sáng Chúa chẳng soi từ trên cao. Mọi phẩm giá đều hư mất trong sự kiêu ngạo. Còn người thâu thuế trở về nhà, gánh nặng được lăn ra khỏi lòng, chân như được thêm sức mới dẻo dai; phong cách như có ánh sáng mới tỏa soi. “Vì kìa mùa đông đã qua, bông hoa đã nở ra trên đất”. Người thâu thuế tìm được bình an nơi Đức Chúa Trời, được xưng công bìn, được nên thánh và công nghĩa khi tương thông với Đấng Công Nghĩa. “Nay tôi sống, không phải là tôi sống nữa, mà Christ sống trong tôi.” Trong lòng khiêm nhường của ông, Chúa đã nâng ông lên.

Stttgart 22/11/07

 

Một cái nhìn khác

            Chúng ta có thể tưởng tượng được ngay quang cảnh Chúa Giê-xu mô tả trong câu đầu và cũng có thể tưởng tượng nơi tập trung hai nhân vật chính là người Pha-ri-si kiêu ngạo và người thâu thuế khiêm tốn. Chúng ta có thể tưởng tượng được ngay cử chỉ của họ lúc bước vào đền thờ, tư thế họ lúc cầu nguyện và sự tiếp đón của mọi người khi họ bước qua sân ngoài khi đi ra. Khi tự hỏi tại sao Chúa khước từ người Pha-ri-si và tiếp nhận người thâu thuế, ta có thể thấy những điểm sau:

1.Về một số điểm, hai người nầy không khác nhau: Cả hai đều là những người không thờ hình tượng và là những người thờ lạy Đức Chúa Trời; cả hai đều yêu quí đặc ân cầu nguyện, đều cùng vào một nơi và kêu cầu cùng một Đấng, người nào cũng nói lên những ý nghĩ quan trọng trong tâm trí mình.

2.Về một số mặt, người Pha-ri-si có vẻ có ưu thế: a).Người Pha-ri-si được nể vì bởi một quần chúng tốt và kính sợ Đức Chúa Trời, thành phần đáng kính trong thời đại ông, b).Người Pha-ri-si có một đời sống rất giá trị về mọi quan hệ xã hội và chính trị, c). Người Pha-ri-si thiêng liêng hơn, vì có thói quen làm việc sùng kính và từ thiện, trong khi người thu thuế sống ti tiện và không sùng kính.

3.Ngôn từ trong lời cầu nguyện của họ quyết định họ có được Đức Chúa Trời chấp nhận hay không theo cái nhìn của Ngài: a).Một người thật sự khiêm tốn cũng có thể có những lời cầu nguyện giống kiểu người Pha-ri-si nầy, dù không thật nghĩ thế trong thâm tâm. Việc cám ơn Đức Chúa Trời giữ mình khỏi tội lỗi và giữ mình đi trong lối công chính và thành kính là điều không sai. b).Một người thờ phượng bình thường cũng có thể dâng lên một lời cầu nguyện giống như người thâu thuế. Vì thế có biết bao lần, có những lời tương tự như “xám hối” mà không phải là sám hối xuất phát từ những kẻ có lời khiêm nhường trên môi mà “lòng hướng về sự gian ác”! T.T. Lynch, một nhà văn hiện đại, có lần mô tả hai con người nầy lại lên đền thờ để cầu nguyện. Lần nầy, người Pha-ri-si bắt chước cách nói của người thâu thuế, hy vọng Chúa sẽ tiếp nhận mình. Nhưng lại một lần nữa lại bị Ngài khước từ; trong lúc người thâu thuế tạ ơn Chúa đã phục hồi và làm mình được đổi mới, lại một lần nữa được Chúa tiếp nhận.

Vì có khi lệ đổ,
Vì có khi tạ ơn,
Nhưng Chúa chắc vui hơn,
Khi ta sống thật lòng.

Vậy, chúng ta sẽ giải thích sao, khi “người nầy trở về nhà mình được xưng công nghĩa”, còn kẻ kia thì không?

I.Người Pha-ri-si đã sai lầm từ căn bản khi đánh giá về mình trong khi người thâu thuế đánh giá đúng bản thân mình. Người Pha-ri-si nghĩ rằng mình có hết mọi điều Đức Chúa Trời muốn mình có và khi tự đánh giá mình đã lầm lẫn một cách đáng thương. Ông nghĩ chắc chắn, và gần như tuyệt đối, Đức Chúa Trời chỉ quan tâm đến bề ngoài của tôn giáo; điều Ngài yêu thích nằm trong nghi thức, tài vật, việc giữ luật pháp thận trọng, chi li, những lời cầu nguyện hình thức có sẵn! Ông lầm lẫn, không biết rằng tất cả những điều đó chỉ là cái vỏ chứ không phải cái nhân. Cái vỏ hành vi đúng không có giá trị nếu không có cái nhân của lòng tôn kính Đức Chúa Trời và  tình yêu thương với tha nhân. Người thâu thuế mặt khác, tưởng rằng mình rất xa sự công bình của Đức Chúa Trời, vì mình có cuộc sống tội lỗi đáng bị Đức Chúa Trời trừng phạt. Và nghĩ như thế là đúng

II.Lầm lẫn về giá trị đã dẫn người Pha-ri-si đến chỗ tán dương mình; còn đánh giá đúng về mình đã khiến người thâu thuế có sám hối chân thành. Đội lốt biết ơn Chúa, người Pha-ri-si tặng cho mình những lời khen ngợi, tán dương, nâng mình lên chỗ đáng tôn, thậm chí trong lòng còn có ảo tưởng rằng chắc chắn Chúa yêu mình; còn người thâu thuế bị dằn vặt vì nhận thức được trong thâm sâu mình chỉ là con người xấu xa, không ra chi, đã chân thành xưng ra tội lỗi và tìm kiếm sự thương xót của Đức Chúa Trời mà ông biết mình rất cần.

III.Đức Chúa Trời ghét kẻ kiêu ngạo và ban ơn cho người khiêm nhường. Có thể nói Kinh Thánh Tân và Cựu Ước đầy dẫy khắp nơi chân lý nầy. Đức Chúa Trời đã phán dạy và nhiều lần lập lại. Ngài tuyên bố rõ ràng và nhấn mạnh rằng kiêu ngạo là một điều đáng ghê tởm và không thể tha thứ được trong cái nhìn của Ngài; nhưng người khiêm nhường sẽ còn mãi trước mặt Ngài. (Lu-ca 8:14, Thi.138:6, Châm. 28:13, Ê-sai 57:15, Ma-thi-ơ 5:3, I Phi. 5:6, I Giăng 1:8-9). Đây là 1)một sứ điệp cảnh cáo nghiêm trọng liên quan đến những kẻ tiếp nối di sản thiêng liêng của người Pha-ri-si, là những người thỏa mãn với điều kiện thuộc linh của mình – mà không có quyền làm thế; những kẻ lấy lớp vỏ ngoài xây đắp hy vọng mình, nhưng bên trong không có tình yêu dành cho Đức Chúa Trời. Đây cũng chính là 2)một sứ điệp về ơn tha thứ đem lại nâng đỡ và gây dựng đối với những người lòng đeo đẳng ý thức tội lỗi một cách không cần thiết. Con đường thương xót mở ra cho hết thảy những linh hồn ăn năn. Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng làm sự “chuộc tội cho toàn thể nhân loại”, và ơn tha thứ của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu có dư dật cho mỗi con người tội lỗi. Trng Ngài, chúng ta được sự tha tội, bình an, vui mừng, hy vọng và cả sự sống đời đời.

Stuttgart 17/01/08

 

 

 

           

 

 

Lu-ca 21, 1-4

“Đức Chúa Giê-su vừa, thấy những kẻ giàu bỏ tiền lễ vào rương, lại thấy một mụ góa nghèo bỏ vào hai đồng tiền. Ngài phán rằng : Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ vào nhiều hơn hết mọi người khác. Vì mọi người kia đều lấy của dư mình mà làm của dâng; nhưng mụ nầy thiếu thốn, mà đã dâng hết của mình có để nuôi mình.”

Chúng ta chỉ thấy câu chuyện nầy được chép trong Tin Lành theo Lu-ca và theo Mác (Mác 7:41-44). Chúa đang ngồi, có thể Ngài đang ngồi bình tâm lại sau khi ra sức tố cáo những thầy thông giáo và người Pha-ri-si, ở hàng hiên của phần đền thờ dành cho phụ nữ. Tại đây là nơi có kho bạc của đền thờ, với 13 thùng tiền dâng dọc theo tường dành cho việc dâng hiến của người ta. Những thùng tiền dâng nầy tiếng Do Thái gọi là shopheroth, hay loa kèn, vì chúng có hình như những loa kèn, phần dưới phồng tròn và thắt lại ở phía trên thành một miệng tròn, hay một chỗ mở ra để người ta ném tiền vào. Có những chiếc loa được khắc những dòng chữ đặc biệt, cho biết mục tiêu của việc sử dụng số tiền dâng đó.
“Đức Chúa Giê-su vừa ngó lên, thấy những kẻ giàu bỏ tiền lễ vào rương” Chắc hẳn trong dòng người đi đến dâng hiến đó là những kẻ mới vừa đi qua sân đền thờ, và nhiều người đặc biệt đã kinh ngạc trước những lời long trọng của Chúa Giê-su mà mình vừa được nghe.
”... lại thấy một mụ góa nghèo bỏ vào hai đồng tiền” đồng tiền ở đây là đồng bạc nhỏ nhất của tiền tệ đang hiện hành thời đó. Hai đồng tiền đó là số tiền dâng ít ỏi nhất được bỏ vào trong chiếc thùng loa kèn. Nhưng số tiền đó, theo Đấng đọc được trong lòng, biết rõ mọi tấm lòng người, cho chúng ta biết trong câu 4 rằng đó chính là những gì”bà có để nuôi mình”; và số tiền đó nói lên lòng hiến dâng rộng rãi của người đàn bà góa nghèo khổ, cô độc đã được sự khen ngợi của Chúa, và từ đó đã làm cảm động lòng của bao nhiêu thế hệ đi sau, khiến người ta hết lòng ngưỡng mộ một hành động cao đẹp, nhưng khó mà bắt chước được.

Giờ đây, chúng ta hãy xem qua sự khen ngợi mà Chúa Giê-su dành cho người đàn bà góa đó.
Ngồi đối diện với thùng tiền dâng, Chúa chúng ta đã thấy cả người giàu lẫn người nghèo đến dâng lễ vật của mình. Có nhiều người giàu dâng rất nhiều những gì mình có thừa, và chắc hẳn Chúa Giê-su ghi nhận rõ tỷ lệ dâng hiến của họ. Nhưng có một bà góa đến và bỏ vào thùng tiền dâng hai đồng xu nhỏ. Số tiền đó rất ít, nhưng đó là tất cả những gì bà có được. Đằng sau bộ áo quần lếch thếch của bà, Chúa Giê-su đã nhìn thấy một tấm lòng vĩ đại hơn tất cả những kẻ ở đó. Qua câu chuyện nầy, chúng ta đã học được: 1. Rằng Đấng Christ thấy hết tất cả lễ vật chúng ta dâng lên. Đấng Cứu Rỗi chúng ta đang ngồi đối diện với chỗ dâng hiến, để phán và ghi nhận những gì chúng ta dâng ở đó. Chúa Giê-su ở đâu thì không có sự hiến dâng nào còn là sự kín nhiệm nữa. Chúng ta nên làm công việc dâng hiến sao cho khi mình dâng tay trái thì tay phải không biết, nhưng Chúa Giê-su biết hết. 2. Chính tấm lòng xác định chúng ta dâng hiến có rời rộng hay không. Không phải số lượng, mà là chất lượng của hành động, mới chính là điều quan trọng. Một đồng bạc nhỏ của người đàn bà góa có giá trị dưới mắt của Chúa chúng ta hơn là hàng ngàn đến từ một triệu phú gia. Cho nên chúng ta phải tra xét chính mình và xem rõ có thể chúng ta có những động cơ nào trong hành động của mình. 3. Người nghèo nhất cũng có thể là người hiến dâng nhiều nhất. Đây chính là điều chúng ta cần giải thích rõ. Nếu cả người nghèo lẫn người giàu đều hiến dâng với tấm lòng mở rộng, ắt hẳn thời kỳ “vàng son”của Hội thánh sẽ đến. Đó là điều mà Chúa muốn dẫn chúng ta đi đến.

Phúc Âm Lu-ca 21:1-4 còn nói lên điều mà Đấng Khôn Ngoan định là có giá trị hơn hết. Vậy, cái gì có giá trị hơn hết trong hành động của con người? Chắc chắn đối với những con người đang hành động một cách yếu đuối trong cuộc đời nầy hẳn đây là một dấu hỏi nghiêm túc. Làm thế nào chúng ta có thể cho là một hành động nào đó của mình là có giá trị hay không có giá trị? Và chúng ta lấy tiêu chuẩn nào để đánh giá những việc lành của mình? Đoạn Kinh Thánh trên đã cho chúng ta một nguyên tắc để lấy đó mà phán đoán. Có hai loại hành động chủ yếu của Cơ-đốc nhân nên được đặt lên trên và là những hành động giá trị một khi:
1. Đó là những việc làm ích lợi: nhằm mục đích đem lại điều tốt. Và tại đây, chúng ta ghi nhận được tính cách ích lợi lớn lao của nó:1. Bởi đây là hành động biểu hiện tính chất chứ không phải hoàn cảnh. 2. Đây là một hành động bất chấp những trở ngại; tiến trình đưa đến hành động có tính cách hữu ích đó nói lên sự khác biệt giữa điều tốt có chủ định và điều xấu do rủi ro gây ra. 3. Và cũng chính là vì : hành động tốt luôn tạo ảnh hưởng và do đó đã đem lại hiệu quả. Có những hành động khi đã thực hiện, thì đã nói lên giá trị của nó; cho dầu không có kết quả đáng kể; nhưng có những hành động giống như một hạt giống được đặt vào lòng đất-mà mãi đến đời sau bông trái của nó sẽ được hái.
2. Theo tâm tình khiến nảy sinh hành động. Nếu những hành động hữu ích được người ta làm trong tinh thần ganh đua hay nhằm mục đích phô trương, hoặc hy vọng được thưởng công vật chất hay được địa vị xã hội, ắt dưới mắt Đức Chúa Trời điều ấy chẳng có chút giá trị gì. Nhưng nếu mọi việc đó được làm ra để Đức Chúa Giê-xu Christ được đẹp lòng và vinh hiển, hoặc được thúc đẩy bởi lòng nhân đức đơn thuần, hay bởi sự thuận phục Đức Chúa Trời là Cha, hành động ấy sẽ có giá trị thật và cũng chính là những điều Đấng Cao Cả thuận ý. Đoạn Kinh Thánh trên đây còn dạy chúng ta thấy được rằng việc làm tốt được xem là có giá trị khi:
3. Việc ấy được làm ra bởi lòng vô kỷ. Nếu tự tâm các hành động tốt xuất phát từ lòng vị kỷ hẳn chúng không phải là đức hạnh dưới mắt Đức Chúa Trời; tùy vào lòng rộng rãi, hay tùy vào giá trị của những gì chúng ta hiến dâng mà hành động đó có được xem là cao đẹp hay không. 1. Việc dâng tiền: Dưới mắt của Đức Chúa Trời, đóng góp khiêm tốn của người đàn bà góa có giá trị nhiều hơn vàng của những kẻ giàu có, bởi họ đã hiến dâng một số tiền mà có mất đi họ cũng chẳng thấy có gì – số tiền đó không làm cho cuộc sống thoải mái của họ bị giảm đi và không có gì là hy sinh trong đó; nhưng người đàn bà góa đã dâng tất cả những gì mình có – một số tiền mà bà sẽ rất cần, đó chính là một sự hiến dâng rộng rãi. Chúng ta đã bao lần vỗ tay khen ngợi việc hiến dâng hàng trăm triệu trong lúc một, hai ngàn dâng lên của những công nhân, thợ thuyền có chỗ cao hơn trong sách tài chính của thiên đàng! 2. Việc dâng thì giờ: Người sống trong hoàn cảnh dễ dãi, cho phép mình hiến dâng nhiều thời gian cho tôn giáo hay cho lòng yêu tha nhân, có thể có giá trị ít hơn và đã đóng góp không bằng như người bị nhiều trách nhiệm thúc ép và có mang một gánh nặng gia đình lớn, nhưng vẫn dánh ra một ít thì giờ làm việc nặng nhọc của mình trong ngày phục vụ cho chính nghĩa của Đấng Christ và cho con người. Cái mà tiếng La-tinh gọi là horae subscecivae (những giờ theo sau đó) có tầm quan trọng nhiều hơn những ngày nhàn rỗi. 3. Việc phục vụ tích cực trong cánh đồng làm việc của Cơ-đốc nhân. Có người được thể chất để phục vụ nơi bảng phấn, trên tòa giảng, trong phòng học hầu như không được trả tiền; họ có thể nói mà không cần chuẩn bị trước và không đuối sức sau đó. Nhưng cũng có người chỉ có thể phục vụ theo sức của họ; sức mạnh của họ chỉ đủ để làm việc trong một số giờ nhất định cho công việc, họ hiến dâng chính mình trong hành động phát biểu hay tỏ bày thiện cảm và đã thấy mình khốn khổ vì kiệt sức. Một việc phục vụ nhẹ nhàng, được thời gian biểu hay thống kê ghi nhận về phần việc của người nầy có thể hơn so với công việc rất tốt và được đánh giá cao của người kia. 4. Sự hy sinh cuộc đời: Dường như việc hiến dâng cuộc đời mình cho Chúa và cho tha nhân có giá trị giống như việc hiến dâng những điều khác. Nhưng không. Đời sống có những giá trị khác nhau theo từng cấp bậc khác nhau. Với một người hiến dâng thời gian rảnh rỗi ngắn ngủi và vô vị còn lại của đời mình hẳn của dâng đó phải ít hơn, so với một thanh niên trẻ trung, có mọi thú vui và giá trị của cuộc đời trong tầm tay với tương lai sáng lạn mở rộng vòng tay chào đón thay vì đi phục vụ cho người khác; hành động hiến dâng do đó cao cả hơn, vì hy sinh của anh lớn hơn. Vậy, a). Chúng ta cẩn thận, đừng xét đoán theo bề ngoài, vì làm thế, chúng ta có thể sẽ xét đoán không công bình. b). Hãy chắc chắn rằng mỗi một hành động thành thật trong sự phục vụ có giá trị đều được khen ngợi và được Đấng Christ đón nhận riêng cho Ngài.

“Có lời chép rằng: Nhà ta sẽ là nhà cầu nguyện ...”
Lu-ca 19:46

Khi thấy quang cảnh buôn bán và đổi bạc tấp nập trong khuôn viên sân đền thờ Giê-ru-sa-lem, Chúa chúng ta đã bày tỏ nỗi bất bình rất lớn. Điều đó cho chúng ta thấy tầm quan trọng Ngài dành cho quan điểm đúng về nơi thánh và cách sử dụng đúng nơi thánh. Ngài đề cao tuyệt đỉnh hành động cầu nguyện khi cho đó phải là một điều trên hết mọi thứ, đặc trưng cho nhà của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ thấu hiểu được ý Ngài khi biết rằng:

1. Cầu nguyện chính là dâng của lễ

Đền thờ của Đức Chúa Trời trước hết và trên hết dành cho việc dâng tế lễ. Chỉ có tại nơi đó và duy nhất tại đó của lễ mới có thể được dâng cho Đức Chúa Trời. Một nơi duy nhất trong xứ chỗ các của lễ chuộc tội và của lễ thiêu được dâng lên. Vậy thì phải chăng nơi đây chủ yếu là chỗ dâng của tế lễ? Đúng như thế; nhưng việc dâng tế lễ nghĩ cho cùng cũng chính là một hình thức cầu nguyện. Trong đó và qua đó, người dâng tế lễ được kéo đến gần với Đức Chúa Trời của tình yêu thương một cách ý thức; trong đó, người dâng tế lễ xưng tội mình ra cho Ngài; nhìn biết mình mình luôn phụ thuộc vào ơn Chúa; kêu cầu sự thương xót và ơn khoan hồng tha thứ của Ngài. Đó chính là cầu nguyện; một thứ cầu nguyện bằng của lễ chứ không phải bằng lời. Không có sự hiến dâng đó -tức ý thức đến gần bên Chúa, xưng tội, cảm tạ và nài xin-là không phải cầu nguyện. Chính vì vậy mà đền thờ, nơi dâng của tế lễ, cũng chính là chỗ cầu nguyện.

2. Chỗ dành để cầu nguyện chính là đền thờ:

Từ lời Đức Chúa Giê-xu (Lu-ca 18:10), chúng ta có thể thấy rằng thông thường, đền thờ là nơi dân chúng chọn ra để dâng lời cầu nguyện. Những người Do-thái trong thời kỳ bị lưu đày đã hướng về đền thờ khi quì gối cầu khẩn ở xứ xa; và đền thờ cũng chính là nơi họ đến đứng cầu nguyện khi được ở gần nơi thánh. Đương nhiên, đền thờ được xem như là chỗ thích hợp nhất để người ta cảm nhận sự hiện diện của Đức Giê-hô-va, trút đổ những ao ước và khát vọng của lòng mình cho Ngài. Có rất nhiều chỗ dành cho sự cầu nguyện, nhưng đó mới chính là chỗ cầu nguyện.

3. Chỗ dành cho cầu nguyện trong nơi thánh của các tín nhân:

Nơi thánh của Cơ đốc nhân phải là nơi có đặc trưng gì trên hết mọi sự? 1. Đó phải là nơi nhóm họp chung. Chỗ mà mọi tầng lớp xã hội cùng đến với nhau, kẻ giàu cũng như người nghèo, và biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã làm nên họ (Châm ngôn 22:2); nơi mà người trí thức cũng như kẻ ngu dốt cùng thờ phượng và cúi đầu, “quì xuống mà thờ lạy Đấng Tạo Hóa” (Thi. 95:6); đó là chỗ gặp gỡ của tâm linh con người, và những điều kiện dương trần không còn là điều đáng kể -nơi giàu sang và địa vị không còn gây cách biệt. 2. Đó phải là nơi chiếu sáng tâm linh a) Chỗ Lời của Đức Chúa Trời được đọc lên và phải được đọc một cách trang nghiêm và hiệu quả (theo đúng phải làm); bởi không có gì trong văn chương thích hợp hơn để lôi cuốn và gợi quan tâm hơn cho một tập hợp quần chúng pha tạp; b) Chỗ ý muốn của Đức Chúa Trời được trung thành rao giảng, và Phúc Âm của Đấng Christ được truyền rao và củng cố; c) Chỗ công lao cứu chuộc của Chúa dành cho con người được biện hộ một cách đầy đủ và nghiêm túc nhất. Nhưng đặc biệt nhất, đó là: 3. Nơi cầu nguyện. Tại đó, hoặc khi hát những bài thi thiên, qua một vài nghi thức đã soạn sẵn, hoặc được hướng dẫn bởi sự cảm động và ý tưởng tùy ứng của tôi tớ Chúa; những người đến thờ phượng được đến gần bên sự hiện diện của Đức Chúa Trời theo cách con người qua đó tìm đến với Ngài – trong sự tôn vinh, thông công, cảm tạ, xưng tội, van nài, biệt mình ra thánh. Không một kẻ thờ phượng nào có thể đạt được mức độ thuộc linh cao hơn là khi mình được đổ lòng ra với Đức Chúa Trời khi cầu nguyện trong những điều đa dạng được kể trên đây; và không một tôi tớ Chúa nào có thể phục vụ cho con dân Chúa tụ tập ở đó chân thành hơn và tốt hơn là khi giúp họ đến với Cha của tâm linh, và được thông công tương giao trực tiếp cùng Ngài. Nhà của Đức Chúa Trời được đưa vào xử dụng một cách cao quí và giá trị hơn hết là lúc những người đến gặp nhau biến nơi đó thành “nhà cầu nguyện”.

Pulpit Commentary
H.D.M. Spence, D.D.
Joseph S. Exell, M.A.


Theo sách Giải Nghĩa Tin Lành Lu-ca
Chuyển ngữ: Tín Nhân

Theo Giải Nghĩa Tin Lành Lu-ca The Pulpit Commentary

Lu-ca 20:1-8


“Một ngày trong những ngày đó, Đức Chúa Giê-su đương dạy dỗ dân chúng trong đền thờ và rao truyền Tin Lành, thì các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão đến thình lình, hỏi Ngài như vầy: Hãy nói cho chúng tôi, bởi quyền phép nào mà thầy làm những điều nầy, hay là ai dã ban cho thầy quyền phép ấy? Ngài đáp rằng: Ta cũng hỏi các ngươi một câu. Hãy nói cho ta: Phép báp-têm của Giăng đến bởi trời, hay là bởi người ta? Vả, những người ấy bàn cùng nhau rằng: Nếu chúng ta nói: Bởi trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao các ngươi không tin lời người? Lại nếu chúng ta nói: Bởi người ta, thì cả dân sự sẽ ném đá chúng ta; vì họ đã tin chắc Giăng là một Đấng tiên tri. Vậy nên họ rả lời rằng không biết phép ấy bởi đâu mà đến. Đức Chúa Giê-su bèn phán rằng: Ta cũng không nói cho các ngươi bởi quyền phép nào ta làm những điều nầy.”


I. Việc Đức Chúa Giê-xu Christ từ chối không trả lời câu hỏi người ta chất vấn Ngài cần được giải thích rõ và cho ta thấy những điều đáng chú ý.Điều chúng ta thấy khó hiểu trong sự im lặng của Chúa Giê-su: Phải chăng Tòa Công Luận không có quyền hỏi Ngài điều nầy? Tòa Công Luận là một cơ quan có thẩm quyền, và một trong những chức năng của nó là dẫn dắt công chúng trong nước trong việc xác định: Ai sẽ được tiếp rước như một Đấng Dạy Dỗ thật sự đến từ Đức Chúa Trời. Giăng đã nhìn nhận quyền chất vấn hình thức của họ trên Giăng Báp-tít (Giăng 1: 19-2). khi Đức Chúa Giê-su rao giảng và thực thi thẩm quyền Ngài (Lu. 19:45), thì việc hội đồng quốc gia gửi một phái đoàn xuống chất vấn, theo như điều chúng ta đọc được trong đoạn Kinh Thánh trên, là điều phải lẽ và tự nhiên. Nếu quả đúng như thế, lẽ ra Chúa chúng ta phải trả lời cho họ một cách đầy đủ và rõ ràng. Vậy, tại sao Ngài từ chối không làm?

II. Lý do là vì: 1) Đây chỉ là một lời biện hộ có tính cách hình thức: Tòa Công Luận cho đến giờ vẫn chưa tuyên bố ý kiến của mình về Đấng Tiên Tri lớn đã xuất hiện trước công chúng, một quyết định chính thức mà có thể họ đang mong đợi. Đức Chúa Giê-xu Christ, với tư cách một công dân Do Thái, có quyền chất vấn họ câu hỏi có liên quan đến người làm chức vụ đi trước Ngài, và đã kết thúc chức vụ đó (Giăng). Nếu các quan chức trong Tòa Công Luận không thể và không sẵn lòng nói lên điều quyết đoán của mình, thì họ đã tỏ ra là những kẻ không đủ tài, đủ sức để làm những công việc được định cho họ. Sự việc cho thấy họ từ chối không nói ra ý kiến của mình đã biện hộ cho thái độ không trả lời của Đức Chúa Giê-su trước một Tòa Công Luận đã phô bày sự bất tài, vô tướng của mình. Còn có một điều nữa, đó là: 2) Đức Chúa Giê-su có thể đặt hành động của mình trên một nền tảng đạo đức. Tòa Công Luận đã không lo gì đến việc dẫn dắt dân chúng trên lối công bình và chân thật; họ xem Đức Chúa Giê-su là kẻ thù và muốn đặt bẫy Ngài (19:47). Mục đích của học là mục đích không thánh khiết; không phải vì lòng yêu dân, yêu nước mà vì dã tâm. Họ không tìm điều lành cho công chúng mà tìm kiếm lợi riêng; họ muốn đánh đổ đối thủ để giữ quyền hành và địa vị của mình. Một đối tượng như thế không đáng cho Chúa quan tâm; đó không phải là những kẻ cần phải được tôn trọng, những kẻ đã được định cho sự thất bại; và trong sự khôn ngoan thiêng liêng Chúa chúng ta đã tỏ một thái độ khiến cho họ hoàn toàn mất hết chỗ tựa.

III. Bài học cho chúng ta: Không phải lúc nào Đức Chúa Giê-su cũng trả lời các câu hỏi cho chúng ta. Ngài có hành động hay không còn tùy thuộc vào suy nghĩ của chúng ta khi chạy đến cùng Ngài. 1) Nếu chỉ vì tò mò chăng: Chúng ta sẽ chẳng trông mong chi được nơi Ngài (xem Lu-ca 13:22-24, Công Vụ 1:6-7). 2) Những lời không thuộc linh, không có ý nghĩa cũng không lay chuyển được Ngài (14:15): các nghi thức, các phép lệ có màu sắc tôn giáo lọt vào tai Ngài nhưng sẽ không chạm đến lòng Ngài hay chuyển động cánh tay Ngài. 3) Hành động có dã tâm sẽ không được gì ngoài sự thất bại bởi quyền năng và sự khôn ngoan của Chúa (xem Lu. 20). 4) Khoe khoang sẽ bị mất phần thưởng. Để thấy được Đức Chúa Cha trong bản thể hằng hữu của Ngài là một ước muốn không thể thực hiện được; điều khôn ngoan mà con người có được ấy là hiểu được Ngài như đã được bày tỏ trong Con của Ngài (Giăng 14:8-9). Chúng ta không thể xin Đấng Christ những điều ngoài những gì ở trong năng lực của chúng ta. 5) Thiếu kiên nhẫn phải bị dời lại và phải đợi đến thời kỳ thích hợp (Giăng 6:12). Đôi khi và nhiều khi Đấng Christ nín lặng lúc chúng ta muốn Ngài phán với mình. Nhưng …

IV. Để Ngài phán với mình, điều kiện đó là: Một tấm lòng thành khẩn thiêng liêng thật sự sẽ được Ngài đổ phước, và ban cho những lời ban ân điển và sự sống. Nếu chúng ta thành khẩn và kiên trì tìm kiếm những điều thiêng liêng, tốt lành cho mình và cho tha nhân, ắt chúng ta sẽ được nghe Ngài phán: “Mọi việc sẽ được thành theo như đức tin của con.”